vanban.org

Bản án 12/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 30/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Minh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Minh Đ 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 9 năm 2023. Về án phí: Bị cáo Trần Minh Đ phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh Đức - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Minh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HS-ST
Ngày: 30-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai.

Các Hội thẩm nhân dân:

Phạm Tấn Bình;

Nguyễn Văn Độ.

- Thư ký phiên tòa: là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 115/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Minh Đ, sinh năm 2002 tại A; nơi thường trú: Khóm Trung 1, thi trấn P, huyện T, tỉnh A; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin Lành; quốc tịch: Việt Nam; cha không rõ và mẹ là bà Trần Thị M; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03-9-2023, có mặt.

- Bị hại:

+ Ông Huỳnh Nhật L, sinh ngày 15-11-2005; nơi thường trú: ấp 4, xã T, huyện H, tỉnh L1; nơi tạm trú: Ấp 3, xã V, huyện B, tỉnh D, vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

+ Ông Huỳnh Chí Th, sinh ngày 20-10-2005; nơi thường trú: ấp Hoàng Minh A, xã S, huyện Đ, tỉnh M; nơi tạm trú: Ấp 3, xã V, huyện B, tỉnh D, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trần Minh Đ, Huỳnh Chí Thịnh và Huỳnh Nhật Long là bạn bè. Vào khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 02 tháng 9 năm 2023, bị cáo Trần Minh Đ đến tiệm xăm “Bắp Tatoo” của ông Ngô Văn Lý tại ấp Ô, xã C II, huyện B, tỉnh D để chơi với Huỳnh Chí Th và Huỳnh Nhật L, lúc này bị cáo Đức thấy Th và L sử dụng 03 điện thoại di động nên nảy sinh ý định lấy trộm để đem bán lấy tiền tiêu xài. Sau khi đến chơi được khoảng 10 phút thì bị cáo Đ đi về phòng trọ của bị cáo ở gần đó. Khoảng 02 giờ 00 phút, ngày 03 tháng 9 năm 2023, bị cáo Đ đi bộ từ phòng trọ của mình đến tiệm xăm “Bắp Tatoo” để lén lút lấy trộm 03 chiếc điện thoại di động. Do bị cáo Đ hay đến chơi nên bị cáo Đ biết cửa sau của tiệm xăm bị hư, không khóa nên bị cáo đã đi vào bằng cửa sau của tiệm xăm, lúc này Thịnh và L đã ngủ say. Tại đây, bị cáo Đ lấy 03 điện thoại di động bao gồm: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu trắng và 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 11 màu đen để trên kệ đựng dụng cụ xăm của Huỳnh Nhật L; 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9, màu đỏ đang sạc pin của Huỳnh Chí Th. Sau khi lấy xong bị cáo Đức mang 03 điện thoại di động trên về phòng trọ của bị cáo Đức để cất giấu. Đến khoảng 09 giờ 00 phút sáng cùng ngày, Th và L thức dậy phát hiện điện thoại bị đánh cắp nên đã đến Công an xã C II để trình báo toàn bộ vụ việc nêu trên. Công an xã C II đã mời bị cáo Đ về làm việc, bị cáo Đ thừa nhận hành vi phạm tội nên Công an xã C II đã chuyển toàn bộ hồ sơ cho Công an huyện Bàu Bàng để thụ lý điều tra theo thẩm quyền. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng đã bắt khẩn cấp đối với bị cáo Đ. Tại Cơ quan điều tra bị cáo Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Minh Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trên, bị hại không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Trần Minh Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.

Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax 256Gb, màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 11 6Gb, màu đen và 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9, màu đỏ.

Kết luận định giá tài sản số 64/KL-HĐĐGTS ngày 06 tháng 9 năm 2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bàu Bàng, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax 256Gb, màu trắng có giá 12.900.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 11 6Gb, màu đen có giá 2.500.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9, màu đỏ có giá 1.500.000 đồng. Tổng trị giá: 16.900.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị cáo, các bị hại không có ý kiến gì về các vấn đề trên.

Tại bản Cáo trạng số 117/CT-VKSBB ngày 29 tháng 11 năm 2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Minh Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Mức hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Minh Đ từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù.

Xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax 256Gb màu trắng và 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 11 6Gb màu đen là tài sản của Huỳnh Nhật L nên ngày 21 tháng 9 năm 2023 Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Bàu Bàng đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản trên cho ông L, ông L đã nhận lại tài sản trên; Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9, màu đỏ là tài sản của Huỳnh Chí Th nên ngày 21 tháng 9 năm 2023 Cơ quan Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Bàu Bàng đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản trên cho ông Th, ông Th đã nhận lại tài sản trên.

Trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố, trình bày luận tội của Viện Kiểm sát.

Bị cáo Đ nói lời sau cùng: bị cáo đã hối hận, bị cáo phạm tội lần đầu, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bàu Bàng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người tham gia tố tụng nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Minh Đ đã khai nhận hành vi của bị cáo như Cáo trạng quy kết. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có cơ sở kết luận: Vào khoảng 02 giờ 00 phút, ngày 03 tháng 9 năm 2023, tại tiệm xăm “Bắp Tatoo” thuộc ấp Ô, xã C II, huyện B, tỉnh D, bị cáo Trần Minh Đ đã lén lút lấy trộm 03 điện thoại di động bao gồm: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax 256 Gb màu trắng trị giá 12.900.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 11 6Gb màu đen trị giá 2.500.000 đồng của ông Huỳnh Nhật L; 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9, màu đỏ trị giá 1.500.000 đồng của ông Huỳnh Chí Th. Tổng giá trị tài sản bị cáo Đ chiếm đoạt là 16.900.000 đồng. Bị cáo Đ lấy trộm tài sản nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Hành vi của bị cáo Đ lén lút lấy tài sản của người khác đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo như Cáo trạng là đúng.

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không những xâm phạm trực tiếp đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự, trị an ở địa phương, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội thêm một thời gian để có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Bị cáo Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Đ phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, tài sản đã thu hồi trả cho bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm trách nhiệm hình sự nhẹ theo quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), bị hại L có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối bị cáo tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu trắng và 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 11 màu đen là tài sản của Huỳnh Nhật L, ngày 21 tháng 9 năm 2023 Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Bàu Bàng đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 44/QĐ-ĐTTH trả lại các tài sản trên cho ông L là đúng với quy định của pháp luật; Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9, màu đỏ là tài sản của Huỳnh Chí Th, ngày 21 tháng 9 năm 2023 Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Bàu Bàng đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 43/QĐ-ĐTTH trả lại các tài sản trên cho ông Thịnh là đúng với quy định của pháp luật. Ông L và ông Th đã nhận lại các tài sản trên và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét

Trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 173, các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Minh Đ.

Điều 106, Điều 135, Điều 136 Điều 260, Điều 268, Điều 269 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Mục 1, Phần I Danh mục Án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo) của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Trần Minh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Minh Đ 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 9 năm 2023.

2. Về án phí: Bị cáo Trần Minh Đ phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ