vanban.org

Bản án 12/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện An Lão, TP. Hải Phòng Tuyên án 08/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Mai Hoàng P phạm tội “Cướp giật tài sản”

Xử phạt bị cáo Mai Hoàng P 04 (bốn ) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 07 tháng 9 năm 2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Hoàng P - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Hoàng P phạm tội “Cướp giật tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN LÃO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:12/2024/HS-ST
Ngày 08-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Định.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Thôn

Bà Đặng Thị Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Mai Hoàng P, sinh ngày: 12/11/1992; tên gọi khác: Không có; nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Số 36/131 ngõ H, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng; quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Mai Xuân D (đã chết) và bà: Hoàng Thị T, sinh năm 1969; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: có 01 tiền án đã được xóa án tích là bản án số 26/2011/HS-ST ngày 10/5/2011 của Tòa án nhân dân quận Kiến An tuyên phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; bị tạm giữ từ ngày 07/9/2023 đến ngày 13/9/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng.

- Bị hại: Chị Hà Thị Hương L, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện A, Hải Phòng. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Quốc A, sinh năm 1987; địa chỉ: Số 271 tổ T, phường V, quận K, Hải Phòng. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Phạm Đình Đ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 55 phút ngày 06/9/2023, Mai Hoàng P điều khiển xe mô tô Sirius màu đen của P (không nhớ BKS) đến nhà rủ Phạm Đình Đ (sinh năm 1993, trú tại: Thôn N, xã T, huyện A) để cùng đi uống Methadone tại trung tâm y tế huyện An Lão. Đ điều khiển xe sirius chở P ngồi sau đi qua trục đường thôn Nhất Thượng thuộc xã Thái Sơn thì Phong phát hiện chị Hà Thị Hương L đang điều khiển xe máy điện BKS: 19MĐ3-048.29 đi cùng chiều phía trước. Thấy tại hốc để đồ bên trái xe máy điện của chị L có một chiếc điện thoại di động Iphone 14 Promax màu tím nên Phong đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại trên. Khi Đ điều khiển xe đi song song gần sát với xe của chị L, P đã dùng tay phải lấy chiếc điện thoại của chị L rồi bảo Đ chạy xe về phía trước. Bị mất tài sản, chị L hô “cướp”, đuổi theo nhưng không đuổi kịp. Đ chở P đi theo cánh đồng ra ngã ba Lương Khánh Thiện, thị trấn Trường Sơn đến đến Trung tâm y tế huyện An Lão uống Methadone rồi cả hai về nhà P ở phường Trần Thành Ngọ, quận Kiến An. Tại đây, P bảo Đ ngồi đợi còn P mang chiếc điện thoại vừa cướp giật được đi đến cửa hàng điện thoại của anh Trần Quốc A ở số 271 Trần Tất Văn, tổ Minh Khai 3, phường Tràng Minh, quận Kiến An bán với giá 5.000.000 đồng, số tiền trên P đã chi tiêu cá nhân hết. Đến ngày 07/9/2023 Mai Hoàng P ra đầu thú.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà của Phong ở số 36, ngõ Hòa Bình, phường Trần Thành Ngọ, quận Kiến An thu giữ: 01 quần bò màu ghi xám phần cạp quần gắn tem in chữ “THALOGA”; 01 áo phông cộc tay màu đỏ phần ngực bên trái có in hình con ngựa, ngực bên phải in hình lá cờ, ống tay in số 32; 01 đôi giày bằng da đế cao su màu trắng, phần mũi giày bằng da màu xanh kẻ là trang phục Phong mặc hôm thực hiện hành vi phạm tội.

Trần Quốc A tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão: 01 chiếc điện thoại Iphone 14 Promax 128G màu tím (đã qua sử dụng); 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu VS Mart màu xanh (đã qua sử dụng) - P cầm cố sáng ngày 07/9/2023 với giá 300.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu tím (đã qua sử dụng) – Phong cầm cố với giá 1.000.000 đồng.

Bản định giá tài sản số 29/KL-ĐG ngày 07/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự kết luận: “01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím (đã qua sử dụng) số IME: 359687304314975, số IME 2: 359687303984133, trị giá 20.400.000 đồng”

Bản cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Mai Hoàng P về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với Mai Hoàng P về tội “Cướp giật tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Mai Hoàng P mức án từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét; xử lý các vấn đề về vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm, quyền kháng cáo đối với bị cáo, bị hại, người liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Lão, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng với quy định của pháp luật.

- Về tội danh đối với bị cáo:

Lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa hôm nay, thể hiện: Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 06 tháng 9 năm 2023, tại đoạn đường thôn Nhất Thượng, xã Thái Sơn, Mai Hoàng P (lúc này đang ngồi sau xe máy do Phạm Đình Đ điều khiển) phát hiện chị Hà Thị Hương L đi bên phải cùng chiều, để điện thoại trong hộc để đồ của xe nên khi xe bị cáo đang ngồi đi lên song song, sát chị L, P đã dùng tay phải giật lấy chiếc điện thoại rồi nhanh chóng bỏ chạy. Chiếc điện thoại của chị L qua định giá là 20.400.000 đồng. Khi thực hiện hành vi giật tài sản của chị L, bị cáo P đã sử dụng chiếc xe máy làm phương tiện thực hiện có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người bị hại. Đây là tình tiết "Dùng thủ đoạn nguy hiểm" được quy định tại tiểu mục 5.3, mục 5, phần I Thông tư liên tịch 02/2001/TTLT ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Tòa án nhân dân tối cao - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Công an - Bộ Tư pháp nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở khẳng định bị cáo Phong phạm tội "Cướp giật tài sản" theo điểm d (dùng thủ đoạn nguy hiểm) khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức được pháp luật pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo đầu thú, được người bị hại xin giảm nhẹ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Về nhân thân của bị cáo: Hồ sơ thể hiện bị cáo đã từng bị kết án về hành vi phạm tôi, tuy đã được xoá nhưng qua đó cho thấy bị cáo có ý thức coi thường pháp luật, nhân thân xấu. Hội đồng xét xử nhận định cần thiết phải bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian, buộc bị cáo phải chịu mức hình phạt theo mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo cũng như mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Hội đồng xét xử cũng xét bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

- Về một số vấn đề khác:

Đối với số quần áo thu giữ tại nhà bị cáo là đồ bị cáo mặc hôm giật điện thoại của chị L, bị cáo không xin lại, xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ

Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu VS Mart màu xanh (đã qua sử dụng) - P cầm cố sáng ngày 07/9/2023 với giá 300.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu tím (đã qua sử dụng) - P cầm cố với giá 1.000.000 đồng, tại phiên toà bị cáo đồng ý trả lại tiền cho anh Q và xin lại điện thoại để sử dụng. Xét 02 điện thoại này không liên quan đến hành vi phạm tội, việc liên quan đến 02 chiếc điện thoại này giữa anh Q và bị cáo là việc dân sự nên đề nghị của bị cáo là có cơ sở, được chấp nhận nhưng cần tiếp tục tạm giữ để bảo đảm các nghĩa vụ của bị cáo khi thi hành án.

Đối với số tiền 6.300.000 đồng bị cáo thế chấp 03 chiếc điện thoại cho anh Q, do chiếc điện thoại Iphone 14 Promax 128G màu tím đã được anh Q giao nộp để trả lại cho chị L, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu VS Mart màu xanh và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu tím đã được xử lý trả lại cho bị cáo nên buôc bị cáo phải trả lại cho anh Q số tiền này.

Đối với chiếc xe mô tô Sirius màu đen (không rõ BKS) của P là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, P khai mua không có giấy tờ nên sau khi cướp giật xong P đã bán cho người không quen biết nên Cơ quan điều tra hiện không thu hồi được. Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Chị L không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét

Đối với Phạm Đình Đ là người điều khiển xe mô tô chở P thực hiện hành vi cướp giật tài sản, P khai Đ không biết việc P giật điện thoại của chị L. P không bàn bạc cũng không chia tiền có được do bán điện thoại của chị L cho Đ. Qua xác minh, Đ hiện không có mặt tại địa phương, đi đâu làm gì không rõ. Ngoài lời khai của P thì không có tài liệu nào khác, Cơ quan điều tra tách ra nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét giải quyết. Tuy nhiên cần kiến nghị với cơ quan điều tra tiếp tục điều tra đối với Phạm Đình Đ làm rõ để tránh bỏ lọt tội phạm.

- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm d Khoản 2 Điều 171; Điều 38; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 311, Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 23; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Tuyên bố bị cáo Mai Hoàng P phạm tội “Cướp giật tài sản”

2. Xử phạt bị cáo Mai Hoàng P 04 (bốn ) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 07 tháng 9 năm 2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải trả lại cho anh Quốc Anh số tiền 6.300.000đ (sáu triệu ba trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và anh Quốc Anh có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chưa trả cho anh Quốc Anh số tiền này thì hành tháng có phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa trả cho đến khi trả xong.

4. Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu VS Mart màu xanh (đã qua sử dụng) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu tím (đã qua sử dụng) nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án (theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện An Lão và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện An Lão ngày 25/01/2024).

5. Tịch thu tiểu huỷ 01 quần bò màu ghi xám phần cạp quần gắn tem in chữ “THALOGA”; 01 áo phông cộc tay màu đỏ phần ngực bên trái có in hình con ngựa, ngực bên phải in hình lá cờ, ống tay in số 32; 01 đôi giày bằng da đế cao su màu trắng, phần mũi giày bằng da màu xanh kẻ (theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện An Lão và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện An Lão ngày 25/01/2024).

6. Về án phí: Bị cáo Mai Hoàng P phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 315.000đ (ba trăm mười lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm .

7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ