vanban.org

Bản án 12/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 18/03/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/03/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Viết H, sửa bản án hình sự sơ thẩm 26/2023/HS-ST ngày 20/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Viết H phạm tội “Đánh bạc”. [2] Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 32; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Bộ luật Hình sự, xử phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HSPT - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Viết H, sửa bản án hình sự sơ thẩm 26/2023/HS-ST ngày 20/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HS-PT
Ngày: 18/3/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Trần Khắc Hoàng

- Các Thẩm phán: Ông Bùi Quang Năng, ông Bùi Minh Thư

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Cẩm Vân - Thư ký TAND tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 18/3/2024, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 15/2024/HSPT ngày 30 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Bùi Viết H do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 26/2023/HS-ST ngày 20/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

Bị cáo kháng cáo:

Bùi Viết H; tên gọi khác: Không; sinh ngày 21/10/1967 tại: tại phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi ĐKHKTT và chổ ở: Tổ dân phố T, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 7/12; con ông Bùi Viết T (đã chết) và con bà Đặng Thị T1 (sinh năm 1927); vợ: Trần Thị H1; con: Có 04 con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2000. Anh chị e ruột có 07 người, bị cáo là con thứ 5.

Tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự, vào ngày 13/10/2022 bị Công an thị xã H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 123/QĐ-XPHC phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Đến ngày 08/11/2022, chấp hành xong quyết định xử phạt.

Về nhân thân: Ngày 10/10/ 2016 bị Công an Phường Đ, thị xã H xử phạt hành chính 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc. Đã chấp hành xong ngày 21 tháng 10 năm 2016.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 24/10/2023 cho đến nay tại tổ dân phố T, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

Trong vụ án còn có người có nghĩa vụ liên quan khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 50 phút ngày 26/9/2023, trong lúc ngồi chơi, uống nước tại nhà Lê Văn H2 (sinh năm 1954, trú tại tổ dân phố T, phường Đ, thị xã H) cùng với Bùi Viết H, Nguyễn Văn H3 (sinh năm 1977, trú tại tổ dân phố T, phường T, thị xã H), thì Lê Văn H4 (sinh năm 1957, trú tại tổ dân phố T, phường Đ, thị xã H), nói: Mưa gió có chơi tý không (ý rủ mọi người đánh bạc). Lê Văn H2, Bùi Viết H và Nguyễn Văn H3 đều đồng ý tham gia đánh bạc, cả nhóm thống nhất hình thức chơi bài “Phỏm” được thua bằng tiền. Lúc này, Lê Văn H2 đi vào phòng ngủ gia đình lấy một bộ bài tú lơ khơ 52 quân (có sẵn từ trước), đem ra nói mọi người đi xuống phòng bếp để đánh bạc. Sau đó, Lê Văn H2, Lê Văn H4, Nguyễn Văn H3, Bùi Viết H cùng đi xuống phòng bếp, ngồi lên chiếu (được trải sẵn trên nền nhà trước đó) rồi cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi bài “Phỏm” được thua bằng tiền. Hình thức đánh bạc và tỷ lệ thắng thua như sau: Sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân, chia lần lượt cho mỗi người chơi 09 quân bài (riêng người chia bài được chia 10 quân bài), số bài còn lại đặt giữa chiếu gọi là “bài nọc”. Người chia bài được đánh đầu tiên và đánh ra một quân bài sang người kế tiếp bên cạnh, theo chiều kim đồng hồ hoặc ngược lại thay đổi xen kẽ nhau. Trong mỗi ván bài, người nào đánh quân bài mà bị người kế tiếp “ăn” kết hợp thành “Phỏm” (Phỏm gồm có ba quân bài trở lên cùng chất và số thứ tự liên tiếp nhau hoặc ba hay bốn quân bài cùng số ký hiệu) thì phải trả cho người ăn 10.000 đồng, nếu người này tiếp tục đánh quân bài bị người kế tiếp ăn kết hợp thành “Phỏm” lần thứ hai thì phải trả cho người ăn 20.000 đồng, người nào đánh quân bài ở lượt cuối mà bị người kế tiếp ăn kết hợp thành “Phỏm” (gọi là ăn con chốt) thì phải trả cho người ăn 30.000 đồng. Người ăn quân bài không được bốc bài nọc để ở chiếu mà phải đánh ra một quân bài trong số các quân bài mình được chia, còn nếu không ăn người chơi bốc bài nọc lên rồi đánh một quân bài cho người kế tiếp, cứ như vậy cho đến hết ván bài. Ván bài kết thúc, khi người chơi có tất cả các quân bài đều tạo thành “Phỏm” gọi là “ù” thì thắng và những người còn lại phải trả cho người thắng số tiền 50.000 đồng. Trường hợp, người nào có 03 “Phỏm” đều được tạo thành từ quân bài ăn của người khác gọi là “ù đền” thì người đánh ba quân bài bị ăn đó phải trả cho người thắng số tiền là 100.000 đồng, những người còn lại không phải trả tiền. Nếu không có người nào “ù” hoặc “ù đền” mà bài nọc được bốc đánh hết thì ván bài kết thúc và hạ “Phỏm” rồi tính điểm bằng cách cộng điểm những quân bài còn lại với nhau, trong đó A (Át), J, Q, K được tính điểm lần lượt là 1, 11, 12, 13, còn những quân bài còn lại tính điểm tương ứng với số ký hiệu trên quân bài. Người nào có điểm thấp nhất thì thắng, người có điểm thấp thứ hai, thứ ba và thứ tư lần lượt phải trả cho người thắng số tiền lần lượt là 10.000 đồng, 20.000 đồng và 30.000 đồng. Nếu người nào không có “Phỏm”, gọi là “cháy” thì người này phải trả cho người thắng số tiền 40.000 đồng. Quá trình đánh bạc, Lê Văn H4 sử dụng số tiền 170.000 đồng, Lê Văn H2 sử dụng số tiền 250.000 đồng, Nguyễn Văn H3 sử dụng số tiền 200.000 đồng, Bùi Viết H sử dụng số tiền 200.000 đồng đều để đánh bạc. Đến khoảng 09 giờ 25 phút cùng ngày, trong khi các đối tượng Bùi Viết H, Lê Văn H4, Lê Văn H2 và Nguyễn Văn H3 đang đánh bạc thì bị Công an phường Đ phát hiện. Lúc này, Lê Văn H4, Nguyễn Văn H3 và Bùi Viết H mở cửa phía sau nhà bếp bỏ chạy. Công an phường Đ đã tiến hành lập biên bản, thu giữ tại chiếu bạc số tiền mà các đối tượng dùng để đánh bạc là 820.000 đồng và 01 bộ bài Tú lơ khơ 52 quân. Do bị bắt bất ngờ nên các đối tượng không xác định được số tiền thắng, thua cụ thể. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày 26/9/2023, Lê Văn H4, Nguyễn Văn H3 và Bùi Viết H đến Công an phường Đ khai nhận toàn bộ hành vi tham gia đánh bạc cùng Lê Văn H2.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 26/2023/HS-ST ngày 20/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Bùi Viết H phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Viết H 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong hạn luật định, ngày 02/01/2024, bị cáo Bùi Viết H kháng cáo xin hưởng án treo vì đã nhận thức rõ sai phạm, lần đầu phạm tội, hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn, bản thân là lao động chính và phải chăm sóc mẹ 96 tuổi già yếu không còn tự chủ trong đi lại, sinh hoạt. Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đồng ý với tội danh mà Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tuyên và không yêu cầu làm rõ thêm tình tiết gì của vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tại phiên tòa sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá, phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS chấp nhận kháng cáo, sửa án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm bị cáo Bùi Viết H hoàn toàn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp vời thời gian, địa điểm phạm tội. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Trong khoảng thời gian từ 08 giờ 50 phút đến 09 giờ 25 phút ngày 26/9/2023, tại nhà riêng của Lê Văn H2 ở tổ dân phố T, phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, Bùi Viết H cùng với Lê Văn H2, Lê Văn H4 và Nguyễn Văn H3 thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài “Phỏm” thì bị Công an phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh phát hiện bắt quả tang, lập biên bản sự việc và thu giữ tại chiếu bạc 01 bộ bài tu lơ khơ cùng số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc là 820.00 đồng.

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản sự việc và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận tổng số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc là 820.000 đồng, trong đó bị cáo Bùi Viết H sử dụng số tiền 200.000 đồng vào việc đánh bạc. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng đến nếp sống văn hóa lành mạnh của cộng đồng khu dân cư. Tuy tang số vụ đánh bạc mà bị cáo tham gia chỉ 820.000 đồng thấp hơn mức phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo đang có tiền sự về hành vi đánh bạc chưa được xóa nên bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “ Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là hoàn toàn chính xác, đúng người, đúng tội, không có gì oan sai.

Xét nội dung kháng cáo yêu cầu xem xét cho được hưởng treo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo hoàn toàn khai nhận, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh, điều luật nói trên là đúng pháp luật không oan sai và không yêu cầu hội đồng xét xử làm rõ thêm bất kỳ tình tiết nào của vụ án và tha thiết xin hội đồng xét xử khoan hồng cho bị cáo được hưởng án treo. Hội đồng xét xử thấy quá trình xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cảiphạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, không có tình tiết tăng nặng; bị cáo không phải là người khởi xướng, tính chất mức độ đánh bạc ít, thời gian ngắn, số tiền bị cáo sử dụng đánh bạc chỉ 200.000 đồng; bị cáo là lao động chủ yếu trong gia đình, phải thường xuyên chăm sóc mẹ già yếu, bệnh tật, hoàn cảnh gia đình khó khăn, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo bị cáo tự nguyện nộp tiền án phí sơ thẩm, có đơn trình bày hoàn cảnh được chính quyền xác nhận và đề nghị cho bị cáo cải tạo tại địa phương, bị cáo tuy có nhân thân bị xử phạt hành chính về đánh bạc nhưng đã lâu (2016) và đã thi hành xong. Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, hoàn cảnh bị cáo như đã nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo nhằm thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật như đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp và đủ nghiêm.

[[5] Về án phí: Kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí HSPT theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật TTHS, xử:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Viết H, sửa bản án hình sự sơ thẩm 26/2023/HS-ST ngày 20/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Viết H phạm tội “Đánh bạc”.

[2] Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 32; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Bị cáo Bùi Viết H 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm;

Giao bị cáo Bùi Viết H cho UBND phường Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Nếu người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

[3]. Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁN

Cỡ chữ