- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Hồng T kiện ly hôn với anh Nguyễn Văn S"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23-02-2024 V/v “tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Khúc Thị Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Quốc Tuấn
Ông Đỗ Văn Hùng
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Hồng Quốc Vệ - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 195/2023/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2023 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXX-ST ngày 19 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 21/2024/QĐST-DS ngày 05 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1985, đề nghị vắng mặt
Cư trú tại: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Tạm trú: 213 khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1983, vắng mặt lần 2 không lý do
Cư trú tại: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn trình bày và yêu cầu như sau:
Vào năm 2002 chị và anh Nguyễn Văn S quen biết, sau đó tự nguyện tiến đến hôn nhân, không tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận T, thành phố Cần Thơ vào ngày 24/7/2013. C sống hạnh phúc đến khoảng năm 2019 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân bất đồng quan điểm sống, anh S không quan tâm chăm lo gia đình mà thường xuyên đi nhậu, nhiều lần chị khuyên nhưng anh S không thay đổi nên sống ly thân từ thời gian đó cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân chị về nhà mẹ ruột ở T sống, còn anh S thì vẫn ở nhà tại khu vực T, phường T, không ai quan tâm ai, không ai liên hệ hàn gắn tình cảm. Anh S cũng không đến thăm con.
Chị xác định tình cảm đối với anh S không còn nữa nên xin ly hôn.
Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Văn H, sinh ngày 01/9/2005 và Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 28/8/2008. Ngoài ra, không có con nuôi hay con riêng nào khác. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi duỡng cháu L, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Cháu H đã thành niên, có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, riêng, nợ: không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn quá trình giải quyết dù đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Để giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh S. Tại biên bản xác minh ngày 11/12/2023 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, địa phương cho biết chị T và anh S là vợ chồng có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống anh chị có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc L và Nguyễn Văn H. Nguyên nhân ly hôn không rõ. Về tài sản chung, nợ chung thì không rõ. Anh S vẫn còn đăng ký thường trú tại khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, hiện nay đi làm xa nhưng có về nhà.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
Về thủ tục tố tụng: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị Hồng T được ly hôn với anh Nguyễn Văn S; Về con chung: giao cháu Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 28/8/2008 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi, anh S không phải cấp dưỡng nuôi con. Cháu Nguyễn Văn H đã thành niên, có khả năng lao động nên không đặt vấn đề giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết do đương sự không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa:
[1] Về tố tụng: theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Nguyễn Văn S có nơi cư trú tại: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị T có đơn đề nghị vắng mặt, bị đơn anh S vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không lý do. Căn cứ Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị T và anh S là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Về nguyên nhân dẫn đến ly hôn chị T cho rằng do bất đồng quan điểm sống và anh S không quan tâm chăm lo gia đình. Quá trình giải quyết Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh S nhiều lần để tham gia tố tụng về yêu cầu xin ly hôn của chị T, nhưng đều vắng mặt và không có ý kiến. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị T và anh S đã trầm trọng, đời sống chung đã không còn tồn tại vì đã sống ly thân từ khoảng năm 2019 đến nay, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị T được ly hôn với anh S.
Về con: Theo lời khai của chị T và kết quả xác minh của Tòa án, anh chị có 02 con chung tên Nguyễn Văn H, sinh ngày 01/9/2005 và Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 28/8/2008. Chị T yêu cầu được nuôi dưỡng cháu L và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Cháu L cũng có nguyện vọng được sống chung với chị T. Do đó, giao cháu L cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Cháu H đã thành niên, có khả năng lao động nên không đặt vấn đề giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Đương sự không yêu cầu nên không đặt vấn đề giải quyết.
Về tài sản chung, riêng và nợ: đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: nguyên đơn phải nộp theo quy định.
Lời phát biểu của kiểm sát viên về phần thủ tục tố tụng, cũng như đề xuất ý kiến về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định và quyết định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 207, 227, 228, Điều 235, 238, 262, 264, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 51, 53, 56, 57, 59, 69, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Hồng T được ly hôn với anh Nguyễn Văn S.
Về con chung: giao cháu Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 28/8/2008 cho chị Nguyễn Thị Hồng T tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên, anh Nguyễn Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con. Cháu Nguyễn Văn H đã thành niên, đủ năng lực hành vi dân sự nên không đặt vấn đề giải quyết.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho anh Nguyễn Văn S, không ai được cản trở anh S thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung, riêng và nợ: đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: chị Nguyễn Thị Hồng T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được chuyển từ số tiền tạm nộp án phí sang án phí đã nộp theo biên lai số 0005015 ngày 07/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
Về quyền kháng cáo: đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Cần Thơ; - VKS quận Thốt Nốt; - Chi THA dân sự quận Thốt Nốt; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký Khúc Thị Hồng |