vanban.org

Bản án 12/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H về việc ly hôn với ông Trương Ngọc V. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với ông Trương Ngọc V. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Ngọc H và Trương Ngọc V"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN C
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16-02-2024
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Trung Hiến

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Bùi Thanh Trí

2/ Bà Lê Thị Tuyết Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Nhu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 281/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 505/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/QĐST-DS ngày 23 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1979 (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt)

Địa chỉ: Số 5, tổ 71, khu vực 10, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn: Ông Trương Ngọc V, sinh năm 1972 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số 5, tổ 71, khu vực 10, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/9/2023 và quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày:

Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Trương Ngọc V chung sống vào năm 2003, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ (nay là phường P, quận C) vào ngày 22/9/2003 trên cơ sở tự nguyện. Bà và V sống hạnh phúc được hơn 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, vợ chồng cự cải, không hợp nhau. Ông V thường xuyên nhậu nhẹt, chửi bới, bà và ông V đã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Vì vậy, bà H khởi kiện yêu cầu xin ly hôn.

+ Về quan hệ hôn nhân: Bà H yêu cầu ly hôn với ông Trương Ngọc V.

+ Về con chung: Có 01 con chung tên Trương Bá N, sinh năm 2004, đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về tài sản chung: Không có.

+ Về nợ chung: Không có.

* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trương Ngọc V trình bày:

Ông V thống nhất về quan hệ hôn nhân, thời điểm kết hôn, con chung, tài sản chung, nợ chung cũng như nguyên nhân mâu thuẫn như bà H trình bày. Trước yêu cầu khởi kiện của bà H thì ông V không đồng ý với lý do ông còn thương vợ và ông V cũng không đồng ý ký tên vào bất kỳ biên bản nào.

Vụ án được hòa giải nhưng không thành. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn tiếp tục vắng mặt không rõ lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cphát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật; Người tham gia tố tụng đối với nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt Bị đơn vắng mặt các lần xét xử, Tòa án đã tiến hành triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Từ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nhận thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông V đã thật sự nghiêm trọng, đời sống hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Trương Ngọc V chung sống vào năm 2003, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ (nay là phường P, quận C) vào ngày 22/9/2003 nên xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và điều chỉnh. Quá trình chung sống, bà H và ông V phát sinh mâu thuẫn, bà H có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn”. Bị đơn có địa chỉ tại quận Ccho nên tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Ctheo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn – Ông Trương Ngọc V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt cho nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án (vắng mặt nguyên đơn và bị đơn) theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Trương Ngọc V chung sống vào năm 2003, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ (nay là phường P, quận C) vào ngày 22/9/2003. Bà H và ông V sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông V không lo cho gia đình, thường xuyên nhậu nhẹt, chửi bới bà H. Tại phiên hòa giải ngày 25/12/2023 ông V không đồng ý ly hôn với bà H với lý do còn thương vợ, thương con, ông V muốn hàn gắn tình cảm gia đình. Tại phiên tòa hôm nay ông V không đến tham dự để Tòa án hòa giải, động viên hàn gắn tình cảm gia đình cho nên được xem là từ bỏ quyền tranh tụng của mình.

Xét trong quá trình giải quyết vụ án, bà H xác nhận bà và ông V chung sống không hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng mặc dù vợ chồng có cố gắn hàn gắn tình cảm nhưng không cải thiện. Mặc khác, bà H vẫn cương quyết ly hôn với ông V, bà H không thể chung sống với ông V được nữa. Điều này chứng tỏ giữa bà H và ông V đã không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được thì cuộc sống chung cũng không còn ý N. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H theo quy định tại khoản 1 Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Có một con chung tên Trương Bá N, sinh năm 2004, đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này có ai tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ kiện khác.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

+ Về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng như đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật.

+ Về nội dung giải quyết vụ án: Với những phân tích nêu trên về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung này là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Khoản 1 Điều 19, Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H về việc ly hôn với ông Trương Ngọc V.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với ông Trương Ngọc V.

2. Về con chung: Có một con chung tên Trương Bá N, sinh năm 2004, đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này có ai tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ kiện khác.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp theo biên lai thu số 0003042 ngày 07/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự, quận Cthành án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm phải chịu. Bà H đã nộp xong án phí.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ