- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đào Thị Thanh Th- Nguyễn Văn Ch"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, …
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ***** Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST Ngày: 12/4/2024. “V/v tranh chấp xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Đăng. Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Vĩ
Ông Dương Văn Xuyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Hà – Thư ký TAND huyện Sóc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà: Ông Trương Minh Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 111/2024/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2024 về việc “tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2022/QĐXX-ST ngày 25 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đào Thị Thanh Th, sinh năm 2000. Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã Thanh X, huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội. Nơi ở hiện nay: Thôn Đ, xã Nguyên Kh, huyện Đông Anh, TP. Hà Nội.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Ch, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Thanh X, huyện Sóc Sơn, TP. Hà Nội.
(Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/02/2024 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là chị Đào Thị Thanh Th trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Th và anh Nguyễn Văn Ch có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương năm 2019, vợ chồng kết hôn có tự do tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thanh X, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội ngày 09/10/2019. Sau khi kết hôn xong vợ chồng chị về sống chung cùng với bố mẹ anh Ch khoảng 02 năm thì vợ chồng ra ở riêng nhưng vẫn sống chung nhà với bố mẹ chồng, vợ chồng chỉ ăn riêng. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng vài tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, từ những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống hàng ngày vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, chị có tranh luận thì anh Ch lại đánh chửi chị. Anh Ch rất nhiều lần đánh chị nhưng không gây thương tích gì nên chị cũng không báo chính quyền địa phương giải quyết. Sau khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, anh Ch nhiều lần đánh chị nên chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở sau đó anh Ch xin lỗi chị lại về chung sống cùng anh Ch để con cái có bố có mẹ nhưng anh Ch vẫn không thay đổi vẫn tiếp tục đánh chửi chị nên chị lại tiếp tục về nhà bố mẹ đẻ từ tháng 11/2023 đến nay. Sau khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành. Vợ chồng chị sống ly thân từ tháng 11/2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống cùng anh Ch nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Ch.
- Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Nguyễn Duy Kh, sinh ngày 23/12/2020. Hiện nay cháu đang ở với chị. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi con, đề nghị anh Ch có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị 2.000.000đ/tháng cho đến khi con thành niên. Hiện nay chị đang làm công nhân tại Công ty TNHH INOAC Việt Nam ở khu công nghiệp Quang Minh, Mê Linh, Hà Nội, thu nhập bình quân 7.000.000đ/tháng.
- Về tài sản chung, công sức, nợ nợ: Vợ chồng chị tự thỏa thuận với nhau, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn Ch đã được Tòa án báo gọi, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc nên Tòa án không ghi được ý kiến và không có lời khai về quan hệ hôn nhân, con cái, tài sản.
Tại phiên tòa nguyên đơn chị Đào Thị Thanh Th vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn Ch. Về con chung đề nghị được nuôi cháu Nguyễn Duy Kh và yêu cầu anh Ch cùng cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/ tháng. Về tài sản chung, công sức, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán; Thư ký Tòa án; Hội đồng xét xử và nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Căn cứ Điều 56, 58, 59, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 28, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đào Thị Thanh Th. Cho chị Đào Thị Thanh Th được ly hôn anh Nguyễn Văn Ch. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Duy Kh, sinh ngày 23/12/2020 cho chị Đào Thị Thanh Th trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Ch có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Th 2.000.000đ/tháng. Về tài sản chung, công sức, công nợ: Không xem xét. Về án phí: Chị Th phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Văn Ch vắng mặt lần 2 không có lý do. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Ch theo quy định chung.
. Về nội dung: Chị Đào Thị Thanh Th kết hôn với anh Nguyễn Văn Ch trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thanh X, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 64, quyển số 01/2019 ngày 09/10/2019. Đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống chị Th cho rằng vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên mỗi khi chị có ý kiến tranh luận gì với anh Ch là anh Ch lại đánh chửi chị. Chị đã 01 lần bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở nhưng sau đó anh Ch xin lỗi chị lại về sống cùng anh Ch nhưng anh Ch vẫn không thay đổi bản chất, vẫn thường xuyên đánh chửi chị nên chị tiếp tục bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở. Từ tháng 11/2023 đến nay chị về nhà bố mẹ đẻ ở vợ chồng không quan tâm thăm hỏi gì nhau. Đối với anh Nguyễn Văn Ch, quá trình giải quyết Tòa án đã báo gọi, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc nên không có lời khai. Xác minh tại gia đình chị Th và chính quyền địa phương cung cấp vợ chồng chị Th, anh Ch sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Sau khi anh chị xảy ra mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành. Chị Th đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 11/2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Xét thấy để tồn tại quan hệ hôn nhân thì vợ chồng phải thương yêu, tôn trọng lẫn nhau để cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên vợ chồng anh Ch, chị Th sống không còn quan tâm, chăm sóc yêu thương nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Như vậy mục đích hôn nhân của anh Ch, chị Th không đạt được, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên chấp nhận đơn xin ly hôn và cho chị Th được ly hôn anh Ch để ổn định cuộc sống, là phù hợp với quy định của pháp luật. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Duy Kh, sinh ngày 23/12/2020, hiện nay đang ở với chị Th. Ly hôn chị Th đề nghị xin được nuôi con. Xét yêu cầu của chị Th, Hội đồng xét xử nhận thấy hiện tại cháu Kh đang ở với chị Th, xác minh lấy lời khai bố mẹ chị Th là ông Đào Văn N và bà Nguyễn Thị H xác định khi chị Th ly hôn thì sẽ tạo điều kiện cho chị Th có chỗ ăn, chỗ ở ổn định để nuôi con và phụ giúp chị Th trong việc nuôi dưỡng con. Do vậy, để không xáo trộn cuộc sống của con sau khi ly hôn và hiện nay cháu Nguyễn Duy Kh vẫn còn nhỏ, mới hơn 03 tuổi nên cần được sự chăm sóc của người mẹ nhiều hơn nên cần giao con cho chị Th trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên đủ 18 tuổi (nếu không có sự thay đổi khác) là phù hợp.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Th đề nghị anh Ch cấp dưỡng nuôi con chung là 2.000.000đ/tháng. Xét yêu cầu của chị Th Hội đồng xét xử nhận thấy: Việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên là trách nhiệm của cha, mẹ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Mặc dù anh Ch không đến Tòa án làm việc. Tuy nhiên, qua xác minh tại địa phương thể hiện, hiện nay anh Ch đi làm công nhân có thu nhập ổn định nên cần buộc anh Ch có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Th mức cấp dưỡng 2.000.000đ/tháng là phù hợp.
. Về tài sản chung, công sức, công nợ: Chị Th không đề nghị nên không đặt ra giải quyết.
. Về án phí: Chị Th phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn của chị Đào Thị Thanh Th. Cho chị Đào Thị Thanh Th được ly hôn anh Nguyễn Văn Ch.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Duy Kh, sinh ngày 23/12/2020, cho chị Đào Thị Thanh Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi thành niên đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Văn Ch có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Th 2.000.000đ/tháng, kể từ tháng 5/2024, hình thức cấp dưỡng theo tháng, cho đến khi cháu Kh thành niên đủ 18 tuổi (nếu không có sự thay đổi khác). Anh Ch có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, công sức, công nợ: Không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Chị Th phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0022322 ngày 19/02/2014 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Anh Ch phải nộp 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.
5. Quyền kháng cáo: Chị Th có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Ch vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKS Sóc Sơn - THA Sóc Sơn - UBND xã Thanh X - Các đương sự - Lưu HS, VP | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Minh Đăng |