vanban.org

Bản án 12/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Vũ Văn H.

Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu Vũ Hương Ngọc L, sinh ngày 08/3/2010 và cháu Vũ Minh H, sinh ngày 02/5/2014, kể từ tháng 4/2024 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được. Anh H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh H được quyền thăm hỏi,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Vũ Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 12/2024/HNGĐ-ST
Ngày 19/4/2024
V/v:“Tranh chấp ly hôn,con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Mạnh Xuân Hải.

- Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Minh Tuấn và ông Nguyễn Văn Thể.

- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Loan – Thẩm tra viên Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên toà:bà Ngô Thị Thanh Quý - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 94/2023/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2023, về việc tranh chấp “Ly hôn, con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/QĐST-TA ngày 29/3/3024, giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1989; địa chỉ: thôn Th, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam

2/ Bị đơn: anh Vũ Văn H, sinh năm 1985; địa chỉ: thôn Th, xã Y, thị xã D, tỉnh Hà Nam

(Tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th có đơn xin giải quyết vắng mặt; bị đơn anh Vũ Văn H vắng mặt lần 02 không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th trình bày: Chị kết hôn với anh Vũ Văn H trên cơ sở tự nguyện và được UBND xã Y, huyện D (nay là thị xã D), tỉnh Hà Nam tổ chức đăng ký kết hôn vào ngày 21/9/2009.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn ngày một trầm trọng, nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Vũ Văn H trình bày: Anh xác nhận thời gian, điều kiện thủ tục kết hôn giữa anh và chị Th như chị Th đã trình bày với Tòa án. Về nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn, anh cho rằng là do hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống và vợ chồng đã sống ly thân từ khoảng tháng 11 năm 2023 đến nay. Nay chị Th xin ly hôn anh không đồng ý, anh đề nghị Tòa án hòa giải cho vợ chồng về đoàn tụ để cùng nuôi con.

Về con chung: Cả chị Th và anh H cùng xác nhận vợ chồng có hai con chung là cháu Vũ Hương Ngọc L, sinh ngày 08/3/2010 và cháu Vũ Minh H, sinh ngày 02/5/2014. Khi ly hôn cả chị Th và anh H đều xin nuôi cả hai cháu và đều không yêu cầu người kia cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thị xã Duy Tiên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Về ý kiến việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56; 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết số: 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016. Xử ly hôn giữa: chị Nguyễn Thị Th và anh Vũ Văn H; về con chung: Giao chị Th trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung của vợ chồng. Anh H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung; về tài sản chung, công sức và công nợ của vợ chồng: không đặt ra xem xét; về án phí HN&GĐ sơ thẩm: chị Th phải chịu theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi nghe vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên phát biểu ý kiến về vụ án, sau khi thảo luận và nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Th có đơn xin giải quyết vắng mặt tại phiên tòa; bị đơn anh Vũ Văn H vắng mặt lần hai không có lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Th và anh Vũ Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã Y, huyện D (nay là thị xã D),tỉnh Hà Nam đăng ký kết hôn vào ngày 21/9/2009.

Về quan hệ tình cảm vợ chồng: Sau khi kết hôn, vợ chồng chị Th, anh H chung sống hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, từ đó dẫn đến tình cảm vợ chồng mâu thuẫn ngày một trầm trọng không thể hàn gắn được và anh chị đã sống ly thân từ khoảng tháng 11 năm 2023 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, quan điểm của chị Th xin được ly hôn; quan điểm của anh H không đồng ý ly hôn. Song anh H cũng không đưa ra biện pháp nào để khắc phục mâu thuẫn của vợ chồng để chị Th rút yêu cầu ly hôn về đoàn tụ với anh. Xét thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng giữa chị Th và anh H đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và cho dù giữ nguyên tình trạng sống ly thân như hiện nay cũng không hạnh phúc. Vì vậy, HĐXX cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Th với anh H là phù hợp với thực tế và quy định tại các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Cả chị Th và anh H cùng xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Vũ Hương Ngọc L, sinh ngày 08/3/2010 và cháu Vũ Minh H, sinh ngày 02/5/2014. Hiện cả hai cháu đang ở với chị Th. Xét về điều kiện và nguyện vọng nuôi con của các đương sự. HĐXX thấy rằng, hiện tại điều kiện của chị Th và anh H đều có đủ điều kiện nuôi con chung. Tuy nhiên hai cháu L và H có nguyện vọng muốn được ở với chị Th. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất đối với các con chung của vợ chồng, HĐXX cần giao chị Th trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được và anh H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung là phù hợp với quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 Luật HN&GĐ.

Về tài sản chung, công nợ, công sức của vợ chồng: Do các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Th phải nộp theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Các Điều 28; 35; 39; 147, 227, 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Vũ Văn H.

2. Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu Vũ Hương Ngọc L, sinh ngày 08/3/2010 và cháu Vũ Minh H, sinh ngày 02/5/2014, kể từ tháng 4/2024 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được. Anh H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh H được quyền thăm hỏi, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Chị Th và các thành viên trong gia đình không được cản trở anh H trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

3. Về tài sản chung, công sức và công nợ của vợ chồng: Không đặt ra xem xét.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000 đồng. Chị Th được đối trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai số 0001031 ngày 15/12/2023 tại Chi cục Thi hành án thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

Báo cho nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ