vanban.org

Bản án 12/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn B đối với chị Đỗ Thị Kim H.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn B và chị Đỗ Thị Kim H. 2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Thị Kim Ngân, sinh ngày 14/7/2012; Nguyễn Quỳnh Như Ý, sinh ngày 23/12/2019 cho chị Đỗ Thị Kim H nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn Bồi và Đỗ Thị Kim Hồng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn B đối với chị Đỗ Thị Kim H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỜ ĐỎ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 02-02-2024
V/v: “Ly hôn giữa anh B và chị
H”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thành Sang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Thọ

2. Ông Phạm Hồng Lưu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giai Thoại – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Trong ngày 02 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 261/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2023 về“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 419/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu vực Ph, phường Tr, quận Th, TP.Cần Thơ.

2. Bị đơn: Chị Đỗ Thị Kim H, sinh năm 1995 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Th, xã Tr, huyện C, TP.Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn anh Nguyễn Văn B trình bày:

- Về hôn nhân: Vào năm 2010 được sự đồng ý của cha mẹ gia đình hai bên nên anh và chị Đỗ Thị Kim H đã cưới nhau, đăng ký kết hôn vào ngày 26/12/2012 tại Ủy ban nhân dân phường Trung Nhứt, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do không còn tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống. Khi mâu thuẫn xảy ra, vợ chồng đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành. Đến tháng 6/2023 do mâu thuẫn quá trầm trọng nên vợ chồng đã thống nhất ly thân. Nay anh nhận thấy cuộc sống vợ chồng không còn đem lại hạnh phúc nên anh yêu cầu được ly hôn với chị H.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Kim Ngân, sinh ngày 14/7/2012; Nguyễn Quỳnh Như Ý, sinh ngày 23/12/2019. Từ khi ly thân đến nay do chị H nuôi dưỡng nên anh đồng ý giao cho chị H nuôi dưỡng sau khi ly hôn, anh không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nghĩa vụ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Đỗ Thị Kim H không có mặt trong quá trình giải quyết vụ án và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Văn B khởi kiện chị Đỗ Thị Kim H có địa chỉ tại ấp Th, xã Tr, huyện C, thành phố Cần Thơ với yêu cầu ly hôn và giải quyết việc nuôi con chung sau khi ly hôn nên xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Khi tiến hành xét xử, anh Nguyễn Văn B yêu cầu giải quyết vắng mặt, chị Đỗ Thị Kim H được triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh B, chị H theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn B và chị Đỗ Thị Kim H tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn vào ngày 26/12/2012 nên hôn nhân của anh chị có giá trị pháp lý. Anh B khai, trong thời kỳ hôn nhân, giữa anh và chị H phát sinh mâu thuẫn, bất hòa không thể hàn gắn, nay anh nhận thấy cuộc sống vợ chồng không còn đem lại hạnh phúc nên anh yêu cầu được ly hôn với chị H. Còn chị Đỗ Thị Kim H, mặc dù đã được triệu tập đến Tòa án nhiều lần để giải quyết, nhưng chị vẫn không đến và cũng không có bất cứ văn bản nào gửi cho Tòa án để nêu ý kiến của mình. Như vậy, chị H đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy, cuộc sống hôn nhân muốn đem lại hạnh phúc lâu dài cho cả hai vợ chồng và các con sau này thì vợ chồng phải có nghĩa vụ chung sống với nhau, yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình. Tuy nhiên cuộc sống hôn nhân giữa chị H và anh B có quá nhiều mâu thuẫn, bất hòa không thể hàn gắn, từ khi ly thân cho đến nay, hai bên đều có cuộc sống riêng, không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và tình cảm vợ chồng cũng không còn. Điều này cho thấy, đời sống chung giữa chị H và anh B không thể kéo dài, mục đích hôn nhân đã không đạt được. Ngoài ra, chị H cũng không đến Tòa án để thể hiện ý kiến được hàn gắn, đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh B.

Về con chung: Anh Nguyễn Văn B đồng ý giao 02 con chung tên Nguyễn Thị Kim Ngân, Nguyễn Quỳnh Như Ý cho chị Đỗ Thị Kim H nuôi dưỡng. Xét thấy, Kim Ngân và Quỳnh Như hiện do chị H nuôi dưỡng và chị H có đủ điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Kim Ngân và Quỳnh Như. Cho nên, Hội đồng xét xử giao Kim Ngân và Quỳnh Như cho chị H nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chưa ghi nhận được ý kiến của chị Đỗ Thị Kim H về việc có yêu cầu anh Nguyễn Văn B cấp dưỡng nuôi con hay không và anh B cũng không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

Về tài sản chung: Ghi nhận lời khai của đương sự là không có, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

Về nghĩa vụ chung: Ghi nhận lời khai của đương sự là không có, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn B phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn B đối với chị Đỗ Thị Kim H.

1.1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn B và chị Đỗ Thị Kim H.

1.2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Thị Kim Ngân, sinh ngày 14/7/2012; Nguyễn Quỳnh Như Ý, sinh ngày 23/12/2019 cho chị Đỗ Thị Kim H nuôi dưỡng.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho anh Nguyễn Văn B, không ai được phép cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

1.3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét giải quyết, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

1.4. Về tài sản chung: Ghi nhận lời khai của đương sự là không có, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

1.5. Về nghĩa vụ chung: Ghi nhận lời khai của đương sự là không có, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn B phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh B đã nộp theo biên lai số 0007764 ngày 02 tháng 11 năm 2023 thành án phí.

3. Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ