vanban.org

Bản án 12/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Choỏng Thị V ly hôn Lỷ Chăn C"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 17 Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH LIÊU
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26/6/2024
V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH LIÊU, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lý Văn Thường;

2. Bà Tăng Thị Dân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Bảo Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hoài Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2024, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 07/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024 về: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn chị Choỏng Thị V, sinh năm 1995. Địa chỉ: thôn N, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. 2. Bị đơn anh Lỷ Chăn C, sinh năm 1994.

Địa chỉ: thôn N, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa, nguyên đơn chị Choỏng Thị V trình bày có nội dung:

Về tình trạng hôn nhân: chị Choỏng Thị V và anh Lỷ Chăn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 02/11/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn N, xã V, huyện B nhưng cuộc sống không có hạnh phúc. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh Lỷ Chăn C không quan tâm chăm lo cho gia đình thậm chí còn có hành vi bạo lực. Sau khi mâu thuẫn căng thẳng, vợ chồng đã được gia đình hòa giải tìm mọi biện pháp nhằm khắc phục mâu thuẫn nhưng đều không có kết quả. Mâu thuẫn căng thẳng chị Choỏng Thị V đã bỏ đi làm tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh từ năm 2019 và sống ly thân không ai còn quan tâm dành tình cảm cho nhau. Nay, chị Choỏng Thị V xác định tình cảm vợ chồng không còn, nếu hôn nhân tiếp tục duy trì, không đem lại hạnh phúc cho nhau nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn anh Lỷ Chăn C.

Về con chung: trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng chị Choỏng Thị V và anh Lỷ Chăn C có nhận nuôi con nuôi là Lỷ Vĩnh T, sinh ngày 31/7/2018, hiện do anh Lỷ Chăn C trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn, chị Choỏng Thị V đề nghị để anh Lỷ Chăn C trực tiếp nuôi dưỡng con, chị Choỏng Thị V không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Lỷ Chăn C đều không có mặt tham gia tố tụng theo thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng sau khi quyết định đưa vụ án ra xét xử mới lấy được lời khai của anh Lỷ Chăn C có nội dung: về quan hệ hôn nhân, về con nuôi như nội dung chị Choỏng Thị V đã trình bày, đồng thời đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn theo pháp luật và đề nghị được trực tiếp nuôi con nuôi Lỷ Vĩnh T, không yêu cầu chị Choỏng Thị V phải cấp dưỡng nuôi con.

Tại biên bản xác minh ngày 04/5/2024, thôn trưởng thôn N, xã V, huyện B xác nhận chị Choỏng Thị V và anh Lỷ Chăn C đều là công dân và sống tại thôn N, xã V, huyện B, vợ chồng sống không hạnh phúc, nguyên nhân cụ thể không nắm rõ. Vợ chồng có 01 con nuôi là Lỷ Vĩnh T, sinh ngày 31/7/2018 hiện đang ở với anh Lỷ Chăn C.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về trình tự thủ tục tố tụng: đối với Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện cơ bản đầy đủ quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Choỏng Thị V; giao cho anh Lỷ Chăn C được trực tiếp nuôi dưỡng con nuôi Lỷ Vĩnh T kể từ tháng 6/2024 cho đến khi thành niên, chị Choỏng Thị V không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh nhận định:

. Về trình tự thủ tục tố tụng:

Tòa án nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh thụ lý và giải quyết vụ án về ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn số: 07/2024/TLST-HNGĐ ngày 09/4/2024, giữa nguyên đơn chị Choỏng Thị V với bị đơn anh Lỷ Chăn C có địa chỉ tại xã V, huyện B là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về hôn nhân:

Quan hệ hôn nhân giữa chị Choỏng Thị V và anh Lỷ Chăn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 02/11/2015 là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ. Bị đơn anh Lỷ Chăn C cũng thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài nhiều năm không khắc phục được, sống ly thân từ năm 2019 đến nay, không ai còn quan tâm, dành tình cảm cho nhau đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn theo pháp luật. Vì vậy, xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Choỏng Thị V và anh Lỷ Chăn C đã đến mức trầm trọng không thể khắc phục được, nếu tiếp tục duy trì, không mang lại hạnh phúc cho nhau. Cho nên, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Choỏng Thị V theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về nuôi dưỡng con chung:

Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng chị Choỏng Thị V và anh Lỷ Chăn C có 01 con nuôi là Lỷ Vĩnh T, sinh ngày 31/7/2018 do anh Lỷ Chăn C đang trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Choỏng Thị V có đề nghị giao con nuôi cho anh Lỷ Chăn C trực tiếp nuôi dưỡng, anh Lỷ Chăn C cũng có quan điểm được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu chị Choỏng Thị V phải cấp dưỡng nuôi con. Cho nên, giao cho anh Lỷ Chăn C trực tiếp nuôi dưỡng con nuôi Lỷ Vĩnh T kể từ tháng 6/2024 cho đến khi thành niên; chị Choỏng Thị V không phải cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là phù hợp theo quy định tại các Điều 58; 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

. Về án phí: chị Choỏng Thị V là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 17 Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân:

Cho chị Choỏng Thị V ly hôn anh Lỷ Chăn C.

2. Về nuôi dưỡng con:

2.1. Giao cho anh Lỷ Chăn C trực tiếp nuôi dưỡng con nuôi Lỷ Vĩnh T, sinh ngày 31/7/2018 kể từ tháng 6 năm 2024 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi).

2.2. Chị Choỏng Thị V không phải cấp dưỡng nuôi con.

2.3. Sau khi ly hôn chị Choỏng Thị V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Anh Lỷ Chăn C và các thành viên gia đình không được cản trở chị Choỏng Thị V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí: chị Choỏng Thị V phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005327 ngày 09/4/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh.

4. Về quyền kháng cáo: chị Choỏng Thị V và anh Lỷ Chăn C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ