vanban.org

Bản án 12/2024/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Thanh H:

Về con chung: Giao con chung Phạm Thị Phương U, sinh ngày 03/9/2014 cho anh H được nuôi dưỡng và chăm sóc đến tuổi trưởng thành (Tròn 18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung anh H không yêu cầu Toà án giải quyết. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H1 phải chịu 300.000 đồng án phí DSST. Hoàn trả cho anh Phạ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Thay đổi người trực tiếp nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Thanh H:
  • Căn cứ chính? Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BUÔN HỒ
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST
Ngày 15/3/2024
V/v “Tranh chấp về thay đổi người trực
tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Hường.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Ngọc Khánh.

2. Ông Nguyễn Văn Thức.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ: Ông Từ Quốc Quyền-Kiểm sát viên.

Ngày 15/3/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 245/2023/TLST-HNGĐ ngày 26/10/2023 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 12/01/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phạm Thanh H, sinh năm 1992; có mặt.

Địa chỉ: TDP Đ, phường Đ, thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1994; vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã E, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình hoà giải và tại phiên toà, nguyên đơn anh Phạm Thanh H trình bày:

Tôi và chị Nguyễn Thị Thu H1 trước đây là vợ chồng, chúng tôi đã ly hôn theo Bản án số 13/2023/HNGĐ-ST ngày 24/4/2023 của TAND thị xã Buôn Hồ. Trong thời gian chung sống chúng tôi có con chung Phạm Thị Phương U, sinh ngày 03/9/2014 đã được Tòa án giao cho mẹ Nguyễn Thị Thu H1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (tròn 18 tuổi) theo bản án số 13/2023/HNGĐ-ST ngày 24/4/2023 của TAND thị xã Buôn Hồ. Ngoài ra Tòa án còn tuyên xử: Tôi có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 1.490.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Tuy nhiên từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cháu U vẫn ở với tôi để thuận tiện cho việc đi học, cuối tuần mẹ cháu là chị H1 chỉ đón cháu về chơi, sau đó cháu lại lên ở với tôi và đi học bình thường. Hiện cháu U có nguyện vọng muốn sống cùng tôi, tôi cũng có chỗ ở và công việc ổn định để có thể chăm sóc nuôi dưỡng cháu. Do Bản án số 13/2023/HNGĐ-ST ngày 24/4/2023 của TAND thị xã Buôn Hồ đã tuyên giao con chung cho mẹ là chị Nguyễn Thị Thu H1 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (tròn 18 tuổi) đã có hiệu lực nên tôi không thể tự ý thay đổi quyền nuôi con.

Nay tôi yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ giải quyết giao con chung Phạm Thị Phương U, sinh ngày 03/9/2014 cho tôi được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (tròn 18 tuổi) theo nguyện vọng của cháu U. Về cấp dưỡng: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

-Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị Thu H1 đã được Toà án triệu tập nhưng vắng mặt không có lý do nên Toà án không lấy lời khai và không tiến hành kiểm tra giao nộp chứng cứ và hoà giải với chị Nguyễn Thị Thu H1 được.

Đại diện VKSND thị xã Buôn Hồ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nguyên đơn chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ theo các Điều 70, 71 BLTTDS, bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Toà án, vi phạm các Điều 70, 72 BLTTDS. Về nội dung đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Giao con chung Phạm Thị Phương U, sinh ngày 03/9/2014 cho anh H được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc đến tuổi trưởng thành (Tròn 18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung anh H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu, xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Nguyễn Thị Thu H1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Caên cöù điểm b khoaûn 2 Ñieàu 227, khoaûn 3 Ñieàu 228 Boä luaät toá tuïng daân söï, Toøa aùn vaãn tieán haønh xeùt xöû vaéng mặt bị đơn.

Về quan hệ pháp luật: Đây là tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, khi có tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 28 BLTTDS.

Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu của nguyên đơn HĐXX thấy: Tại Bản án hôn nhân gia đình số 13/2023/HNGĐ-ST ngày 24/4/2023, của Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ đã xét xử và cho anh H được ly hôn với chị H1. Về con chung: Giao con chung Phạm Thị Phương U, sinh ngày 03/9/2014 cho chị H1 trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc đến tuổi trưởng thành (Tròn 18 tuổi). Về cấp dưỡng anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 1.490.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Tuy nhiên sau khi ly hôn, cháu U vẫn ở với anh H để thuận tiện việc đi học và cháu U cũng có nguyện vọng được sống cùng với anh H. Vì vậy xét yêu cầu của anh H yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi chung là cháu Phạm Thị Phương U, sinh ngày 03/9/2014 cho anh H được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc đến tuổi trưởng thành (Tròn 18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung anh H không yêu cầu Toà án giải quyết, cơ bản phù hợp với biên bản xác minh và phù hợp với các Điều 58; 81; 82; 83; 84 Luật hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn chị Nguyễn Thị Thu H1 chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; điểm b khoaûn 2 Ñieàu 227; khoaûn 3 Ñieàu 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 58; 81; 82; 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1 2 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Thanh H:

-Về con chung: Giao con chung Phạm Thị Phương U, sinh ngày 03/9/2014 cho anh H được nuôi dưỡng và chăm sóc đến tuổi trưởng thành (Tròn 18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung anh H không yêu cầu Toà án giải quyết.

-Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H1 phải chịu 300.000 đồng án phí DSST. Hoàn trả cho anh Phạm Thanh H 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0AA/2021/0018784, ngày 23/10/2023, tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Đắk Lắk;

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

- VKS thị xã Buôn Hồ;

- UBND phường Đạt Hiếu;

(đã ký)

- THA DS thị xã;

- Đương sự;

- Lưu hồ sơ, VP.

Đinh Thị Hường

Cỡ chữ