- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Trần Văn M - Phạm Thị Ch - Thay đổi nuôi con sau ly hôn"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 3 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 186; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH _____________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST Ngày 25 tháng 01 năm 2024 V/v “Tr/c thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
-Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phú và ông Nguyễn Quang Tuyến
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nụ - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Xuân Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” thụ lý số 90/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐST- HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Văn M, sinh năm 1989 (Có mặt)
HKTT: Thôn L, xã L, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
- Bị đơn: Chị Phạm Thị Ch, sinh năm 1993 (Vắng mặt)
HKTT: Thôn L, xã L, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn anh Trần Văn M trình bày:
Anh và chị Phạm Thị Ch kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, trong thời gian chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn và làm thủ tục ly hôn vào năm 2022. Tại quyết đinh công nhận thuận tình ly hôn số 01 ngày 12/10/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh thể hiện nội dung: “Về quan hệ hôn nhân: Công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị Ch và anh Trần Văn M; Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị Ch được nuôi dưỡng cháu Trần Thị Tr, sinh ngày 21/7/2014 và cháu Trần Minh H, sinh ngày 03/5/2016. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết…”.
Sau khi ly hôn hai con chung ở cùng chị Ch tại tỉnh Bình Dương và anh vẫn thăm nom và thường xuyên quan tâm đến hai con chung. Tuy nhiên, đến giữa năm 2023 thì cô Chinh bỏ trốn nên bà ngoại của hai cháu đã gọi điện cho anh vào trong tỉnh Bình Dương để đón hai cháu về nuôi dưỡng và chăm sóc. Anh đã vào đón hai con chung được khoảng 02 tuần sau thì cô Chinh bị bắt về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Hiện chị Ch đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Ninh.
Hiện tại anh có cuộc sống, chỗ ở và công việc kinh doanh ổn định nên có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung được tốt nhất còn chị Ch không thể tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng con chung nên để ổn định cuộc sống cũng như việc học tập, sinh hoạt của các con chung nên anh đề nghị Tòa án giải quyết giao cháu Trần Thị Tr, sinh ngày 21/7/2014 và cháu Trần Minh H, sinh ngày 03/5/2016 cho anh được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Cấp dưỡng nuôi con, anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, anh không có yêu cầu nào khác.
Tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị đơn là chị Phạm Thị Ch tình bày:
Ngày 12/10/2022, chị và anh Trần Văn M được Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn. Tại quyết định thuận tình ly hôn số 01 ngày 12/10/2022, Tòa án đã quyết định về con chung là giao cho chị được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Trần Thị Tr, sinh ngày 21/7/2014 và cháu Trần Minh H, sinh ngày 03/5/2016. Cấp dưỡng nuôi con tôi không yêu cầu. Sau khi vợ chồng ly hôn thì ba mẹ con chị sống tại tỉnh Bình Dương. Ngày 01/8/2023, chị bị bắt về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Hiện chị đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Từ khi chị bị bắt, chị đã nhắn anh M vào tỉnh Bình Dương đón hai con về để tiện chăm sóc. Nay anh M làm đơn thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau ly hôn, quan điểm của chị là không nhất trí vì thời gian trước mắt có thể chị không trực tiếp nuôi dưỡng con chung được nhưng chị có thể gửi ông bà ngoại các cháu chăm sóc các cháu thay chị. Sau đó, chị Ch đã có ý kiến bổ sung là trong thời gian chị bị tạm giam để điều tra và thời gian thi hành án sau này thì về mặt thực tế anh M sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng các cháu nhưng về mặt pháp lý (trên giấy tờ) vẫn đứng tên chị được nuôi con.
Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, do điều kiện chị Ch đang bị tạm giam để điều tra nên không thực hiện được việc hòa giải được và chị đã có đơn xin từ chối hòa giải. Về vấn đề tiếp cận, công khai chứng cứ thì các đương sự đều xác nhận đã được tiếp cận tài liệu có trong hồ sơ và không có ý kiến gì. Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện VKSND thị xã Quế Võ tham gia phiên toà nhận xét:
Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; việc thu thập chứng cứ đầy đủ, khách quan, đảm bảo trình tự thủ tục tố tụng dân sự. Thư ký phiên tòa thực hiện đúng các quy định tại Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên toà HĐXX đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo nguyên tắc xét xử công khai bằng lời nói và liên tục.
Nguyên đơn, bị đơn từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 186; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 70,81,82,83,84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Giao con chung là Trần Thị Tr, sinh ngày 21/7/2014 và cháu Trần Minh H, sinh ngày 03/5/2016 cho anh Trần Văn M nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết. Chị Ch có quyền đi lại thăm nom con chung theo quy định của pháp luật và không ai được cản trở chị Ch thực hiện quyền này.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Ngày 09/11/2023, anh M có đơn khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung đối với chị Phạm Thị Ch, HKTT: Thôn L, xã L, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh gửi cho Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ thụ lý vụ án Hôn nhân và gia đình với quan hệ pháp luật tranh chấp là “Yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” là đúng quan hệ pháp luật, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, chị Phạm Thị Ch vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Anh Trần Văn M và chị Phạm Thị Ch được Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh giải quyết ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 01 ngày 12/10/2022. Nội dung quyết định thể hiện “Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị Ch được nuôi dưỡng cháu Trần Thị Tr, sinh ngày 21/7/2014 và cháu Trần Minh H, sinh ngày 03/5/2016. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết. Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con chung theo quy định của pháp luật và không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền này”. Sau khi, anh M và chị Ch ly hôn, chị Ch đã cùng 02 con chung sinh sống tại tỉnh Bình Dương. Hai bên thực hiện việc chăm sóc và nuôi dưỡng, thăm nom con theo quy định và trách nhiệm và không ai có thắc mắc gì. Tuy nhiên, ngày 01/8/2023, chị Ch bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh bắt để điều tra về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, cũng từ thời điểm đó đến nay anh M đã đón con về tỉnh Bắc Ninh chăm sóc và nuôi dưỡng. Hiện nay, chị Ch vẫn đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh và xác nhận thời gian trước mắt chị không thể trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung. Xét điều kiện thực tế: Anh M có cuộc sống, chỗ ở và công việc ổn định còn chị Ch hiện không có điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng các con chung, ác con chung đều có nguyện vọng được ở với anh Trần Văn M. Do đó, để ổn định cuộc sống của hai con chung, để anh M yên tâm nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung nên nhận thấy cần giao cho anh M nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu là phù hợp với thực tế chăm sóc.
Đối với ý kiến của chị Ch chỉ đồng ý giao 02 con chung cho anh M nuôi dưỡng trên thực tế còn trên giấy tờ chị vẫn là người được nuôi con. Xét ý kiến của chị không phù hợp nên không chấp nhận.
Từ phân tích ở trên nhận thấy, anh M có đủ điều kiện và khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc và tạo môi trường sống tốt cho cháu Trần Thị Tr và cháu Trần Minh H. Do đó, để đảm bảo cho cháu Tr và cháu Minh H có cuộc sống tốt hơn cho sự phát triển bình thường nên cần giao hai cháu cho anh Trần Văn M nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp. Cấp dưỡng nuôi con anh M không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết là phù hợp với quy định tại Điều 70,81,82,83,84 Luật hôn nhân và gia đình.
Từ những phân tích trên, HĐXX thấy có đủ điều kiện, cơ sở để chấp nhận yêu cầu khời kiện của anh Trần Văn M về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Khoản 3 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 186; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 70,81,82,83,84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn M đối với chị Phạm Thị Ch về việc “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn”.
Giao con chung là Trần Thị Tr, sinh ngày 21/7/2014 và cháu Trần Minh H, sinh ngày 03/5/2016 cho anh Trần Văn M được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi 18 tuổi hoặc đến khi có yêu cầu mới.
Cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra giải quyết.
“Quyền thăm nom, chăm sóc con, nuôi dưỡng, giáo dục con, thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình”.
- Về án phí: Anh Trần Văn M phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận anh M đã nộp số tiền 300.000đ tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001761 ngày 14/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Án xử sơ thẩm, các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Bắc Ninh; - VKS tỉnh Bắc Ninh; - VKS thị xã Quế Võ; - Chi cục THADS thị xã Quế Võ; - Những người TGTT; - Lưu HS- VP; | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Liên |