vanban.org

Bản án 12/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Chính phủ; 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 12/2024/DS-ST
Ngày: 31/01/2024
V/v tranh chấp“hợp đồng tín
dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Huy Phong

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đào Thị Thu Vân

2. Bà Hoàng Thị Thiện Lai

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Tường Vi, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ

Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện C, tỉnh An

Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 266/2023/TLST- DS ngày 17

tháng 10 năm 2023 về tranh chấp“Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ

án ra xét xử số 640/2023/QĐXX-ST ngày 29 tháng 12 năm 2023; Quyết định

hoãn phiên tòa số 28/2024/TB-TA ngày 15 tháng 01 năm 2024, giữa các đương

sự:

Nguyên đơn: Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn một Thành viên

Quốc tế Việt Nam J (sau đây được gọi tắt là Công ty JIVF).

Người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng: Ông Trương Quốc B, sinh

năm 1984; địa chỉ: Lầu 15, tòa nhà Centec, 72- 74, đường N, phường V, Quận

X, Thành phố H, là đại diện theo ủy quyền theo các Văn bản ủy quyền số

13/UQ-JIVF ngày 29/5/2023 của ông TANIGUCHI NOBORO – Tổng giám đốc

JIVF và Văn bản ủy quyền số 533/2023/UQ-LM-JIVF ngày 08/11/2023 của bà

Nguyễn Thị H, Trưởng bộ phận cấp cao Bộ phận Quản lý công nợ, (ông B có

mặt).

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1997; địa chỉ: số 153, tổ 7, ấp L, xã

K, huyện C, tỉnh An Giang, (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai thu thập trong quá trình giải quyết vụ án và

lời trình bày tại các phiên hòa giải, nguyên đơn, người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn trình bày:

Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn một Thành viên Quốc tế Việt

Nam J có ký kết hợp đồng tín dụng số 57480003323819000 ký ngày 31/10/2022 với bà Nguyễn Thị C. Theo hợp đồng bà C đã vi phạm nghĩa vụ, vi phạm cam kết trả nợ. Nay Công ty JIVF khởi kiện yêu cầu bà C phải thanh toán một lần khoản nợ tạm tính đến hết ngày 12/12/2023 là 33.284.087 đồng. Và tiếp tục yêu cầu bà C thanh toán cho Công ty JIVF tiền lãi phát sinh do nợ quá hạn, lãi quá hạn, các loại phí từ sau ngày 12/12/2023 cho đến khi thanh toán dứt nợ theo hợp đồng đã ký kết.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho ý kiến, yêu

cầu khởi kiện là: 01 (một) bản sao hợp đồng tín dụng; 01 (một) bản sao giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn; Văn bản ủy quyền số 13/UQ-JIVF ngày 29/5/2023 của ông T – Tổng giám đốc JIVF và Văn bản ủy quyền số 533/2023/UQ-LM-JIVF ngày 18/10/2023 của bà Nguyễn Thị H, các thủ tục đăng ký hoạt động của Công ty JIVF.

Bị đơn Nguyễn Thị C vắng mặt nên không thể ghi nhận được ý kiến,

không có văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ nên không tiến hành hòa giải được. Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn vắng mặt, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho

nguyên đơn trình bày, vẫn giữ nguyên ý kiến, yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu bà C có nghĩa vụ trả cho Công ty JIVF gồm vốn và lãi tính đến ngày 31/01/2024: gốc, lãi, lãi quá hạn; tổng cộng 29.514.122 đồng, tiếp tục tính lãi phát sinh sau ngày 31/01/2024 cho đến khi trả hết nợ. Rút lại yêu cầu đối với phí quản lý khoản vay số tiền 120.000 đồng; Ngoài ra, không yêu cầu tính bất cứ khoản lãi phát sinh nào khác.

Bị đơn Nguyễn Thị C vắng mặt nên không thể ghi nhận được ý kiến,

không tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu quan điểm về tuân

theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán được phân công thụ

lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 195, 196, 197, 198 và Điều 203; Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa.

- Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng đối với

nguyên đơn, từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định

tại các Điều 70, 71 và Điều 234; bị đơn từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa đã

thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 72 và Điều 234 từ khi thụ lý vụ

án, tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 76 và Điều 234

Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về giải quyết vụ án:

Hợp đồng tín dụng ngày 31/10/2022 và phụ lục hợp đồng giữa bà Nguyễn

Thị C với Công ty JIVF được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, khi vay

có lập thành văn bản và có chữ ký xác nhận của bà C, việc bà C không trả tiền

vốn và lãi suất Công ty JIVF theo thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ của bên vay

nên Công ty JIVF khởi kiện yêu cầu bà C có nghĩa vụ trả gốc và lãi tính đến

ngày 31/01/2024 số tiền: gốc, lãi, tổng cộng 29.514.122 đồng, tiếp tục tính lãi

phát sinh do nợ quá hạn từ sau ngày 31/01/2024 cho đến khi hết nợ là phù hợp

quy định pháp luật, có căn cứ chấp nhận.

Phía nguyên đơn, rút lại yêu cầu đối với phí quản lý khoản vay số tiền

120.000 đồng. Việc rút yêu cầu này của nguyên đơn là tự nguyện, phù hợp quy

định pháp luật nên đình chỉ theo Điều 217, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463,

466, 468 Bộ luật Dân sự; Điều 217, 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 91, 95

Luật các Tổ chức tín dụng, đề xuất:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn

một Thành viên Quốc tế Việt Nam J;

Buộc bà Nguyễn Thị C có nghĩa vụ trả cho Công ty Tài chính Trách nhiệm

hữu hạn một Thành viên Quốc tế Việt Nam J số tiền tính đến ngày 31/01/2024 là

29.514.122 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh do nợ quá hạn từ sau ngày

31/01/2024 cho đến khi hết nợ.

Đình chỉ yêu cầu của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn một Thành

viên Quốc tế Việt Nam J đối với phí quản lý khoản vay số tiền 120.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà và ý kiến phát biểu của

đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp:

Theo đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ trả tiền vay và

lãi suất; căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định là tranh

chấp“hợp đồng tín dụng”.

Về thẩm quyền:

Bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện Chợ Mới nên vụ án thuộc thẩm quyền

giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của các đương sự: bị đơn vắng mặt tuy được triệu tập

hợp lệ đến lần thứ hai. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung:

Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng:

Theo nội dung đơn kiện, nguyên đơn cho rằng có ký Hợp đồng tín dụng số

57480003323819000 và phụ lục hợp đồng với bà C; hợp đồng tín dụng được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, khi vay có lập thành văn bản và có chữ ký xác nhận của bà C, việc bà C không trả tiền vốn và lãi suất Công ty JIVF theo thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ của bên vay mặc dù Công ty đã nhiều lần nhắc nhở. Do bà C đã trễ hạn thanh toán theo Hợp đồng tín dụng số 57480003323819000 ngày 31/10/2022 nên Công ty JIVF khởi kiện yêu cầu bà Cúc không trả tiền vốn và lãi suất theo thỏa thuận.

Về nhận định, đánh giá tài liệu, chứng cứ:

Hợp đồng tín dụng số 57480003323819000 ngày 31/10/2022 và phụ lục

hợp đồng giữa Công ty JIVF và bà C với số tiền đã giải ngân 27.000.000 đồng, bà C đã nhận đủ; đánh giá hợp đồng tín dụng được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, khi vay các bên có lập thành văn bản và có chữ ký xác nhận của bà C, việc bà C không trả tiền vốn và lãi suất Công ty JIVF theo thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ của bên vay nên Công ty JIVF khởi kiện yêu cầu bà C có nghĩa vụ trả gốc và lãi tạm tính đến ngày 31/01/2024, cụ thể: vốn gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn; tổng cộng 29.514.122 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh do nợ quá hạn từ sau ngày 31/01/2024 cho đến khi hết nợ. là phù hợp quy định pháp luật, có căn cứ chấp nhận.

Về việc rút lại yêu cầu phí quản lý khoản vay: phía nguyên đơn rút lại

không yêu cầu đối với phí quản lý khoản vay số tiền 120.000 đồng, việc rút yêu cầu này là tự nguyện phù hợp quy định Điều 217, 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự nên đình chỉ.

Về án phí:

Căn cứ khoản 3 Điều 144; Khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị

quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí,

được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 556.500 đồng (năm trăm năm mươi sáu nghìn năm trăm đồng) theo biên lai thu số 0014095 ngày 17 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang.

Bị đơn Nguyễn Thị C phải chịu án phí theo quy định là 5% số tiền có nghĩa

vụ phải trả cho nguyên đơn, tương ứng 1.475.000 đồng (một triệu bốn trăm bảy mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Đánh giá quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ được Hội

đồng xét xử xem xét, chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1

Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 273; Điều 217, 244 Bộ

luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ các 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Các Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 49 Nghị định 21/CP của

Chính phủ;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,

thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Xử:

1.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu

hạn một Thành viên Quốc tế Việt Nam J đối với bà Nguyễn Thị C.

Buộc bà Nguyễn Thị C có nghĩa vụ trả cho Công ty Tài chính Trách nhiệm

hữu hạn một Thành viên Quốc tế Việt Nam J số tiền gốc và lãi tính đến ngày

31/01/2024 là 29.514.122 đồng (hai mươi chín triệu năm trăm mười bốn nghìn

một trăm hai mươi hai đồng).

Tiếp tục tính lãi phát sinh do nợ quá hạn sau ngày 31/01/2024 theo Hợp

đồng tín dụng số 57480003323819000 ngày 31/10/2022 giữa Công ty Tài chính

Trách nhiệm hữu hạn một Thành viên Quốc tế Việt Nam J với bà Nguyễn Thị C

cho đến khi bà C thanh toán dứt nợ.

1.2 Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn đối với phí quản lý khoản vay số tiền

120.000 đồng (một trăm hai mươi nghìn).

2. Về án phí:

Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn một Thành viên Quốc tế Việt Nam

J được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là là 556.500 đồng (năm trăm năm

mươi sáu nghìn năm trăm đồng) theo biên lai thu số 0014095 ngày 17 tháng 10

năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang.

Bị đơn Nguyễn Thị C phải chịu 1.475.000 đồng (một triệu bốn trăm bảy

mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn một Thành viên

Quốc tế Việt Nam J được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bản án để Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Bị đơn Nguyễn Thị C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể

từ ngày nhận được tống đạt hoặc được niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của

Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ