vanban.org

Bản án 12/2024/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Ngọc Kh và chị Nguyễn Thị A.

2/ Buộc anh Nguyễn Văn H phải bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tính mạng cháu Nguyễn Khả H1 bị xâm phạm cho bố mẹ cháu H1 là anh Nguyễn Ngọc Kh, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn D, xã X, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh và chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1997. Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đông Hưng, t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Nguyễn Ngọc Kh, Nguyễn Thị A kiện đòi bồi thường do xâm phạm tính mạng Nguyễn Văn H"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Ngọc Kh và chị Nguyễn Thị A.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số Số: 02/2022/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số q…; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM THÀNH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/DS-ST
Ngày: 08/7/2024
V/v : Kiện đòi bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng do tính mạng bị xâm phạm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH - TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Nguyễn Văn Trung.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tích và ông Nguyễn Sao Hôm.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hằng Nga, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 08/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 05/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 02 năm 2024 về việc Kiện đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tính mạng bị xâm phạm, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXX-ST ngày 24/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/QĐST-DS ngày 18/6/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

1/ Anh Nguyễn Ngọc Kh, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn D, xã X, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

2/ Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1997. Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Có mặt.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lương Văn Th, sinh năm 1983. Địa chỉ: Tầng 15, số 169 Nguyễn Ngọc Vũ, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Thành Phố Hà Nội. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1981. Địa chỉ: Thôn V, xã K, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và các tài liệu có trong hồ sơ, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Th trình bầy:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 23/01/2023, tại khu vực cổng nhà bà Phạm Thị X, sinh năm 1966, địa chỉ: Khu phố D, phường X, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, bà X dựng xe xe đạp điện trước cổng nhà để mở cổng, trên xe có chở cháu Nguyễn Khả H1, sinh năm 2021 (Cháu H1 là con anh Nguyễn Ngọc Kh và chị Nguyễn Thị A; bà Phạm Thị X là bà nội cháu H1) ngồi sau xe. Cùng lúc có xe ô tô nhãn hiệu VinFats Lux SA màu xanh, BKS 34A-462.77 do anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1981, trú tại Thôn V, xã K, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương điều khiển đi từ phía sau đến. Khi phần đầu xe ô tô do anh H điều khiển đã đi qua vị trí cháu H1 thì bất ngờ xe đạp điện bị đổ, cháu H1 bị ngã ra đường về phía xe ô tô của anh H, do bất ngờ nên anh H không kịp xử lý dẫn đến bánh sau bên phải xe ô tô chèn vào đầu cháu H1, cháu H1 bị thương tích, chết trên đường đi cấp cứu.

Sau khi sự việc sảy ra, anh H đã thắp hương phúng viếng cháu H1 4.000.000 đồng.

Ngày 24/5/2023, Công an thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh ra Thông báo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm số 583/TB-ĐTTH và Thông báo về việc không khởi tố vụ án hình sự số 584/TB-ĐTTH với lý do không có căn cứ về việc xe ô tô va chạm với xe đạp điện; không có sự việc phạm tội.

Căn cứ khoản 1, 2, 3 Điều 601 Bộ luật dân sự. Xác định việc anh H lái xe ô tô gây tai nạn dẫn đến cái chết của cháu H1 không thuộc trường hợp bất khả kháng mà thuộc trường hợp sự kiện bất ngờ nên không thuộc trường hợp được loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Đề nghị Tòa án buộc anh H phải bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tính mạng cháu H1 bị xâm phạm tổng số tiền 511.500.000 đồng, cụ thể:

Chi phí mai táng, gồm: Chi thuê xe chở cháu H1 từ thị xã Thuận Thành về xã Đông Xá = 12.500.000 đồng; chi mua quan tài = 10.000.000 đồng; chi thuê nhạc, kèn tổ chức ma chay = 30.000.000 đồng; chi mua hoa phúng viếng và nhà thờ = 10.000.000 đồng; chi phí xây mộ = 30.000.000 đồng; chi phí thuê cỗ, rạp, áo, khăn tang trong 02 ngày = 50.000.000 đồng; tổng chi phí mai táng = 142.500.000 đồng.

Chi phí bù đắp tổn thất tinh thần = 149.000.000 đồng.

Chi phí nuôi dưỡng cháu H1 = 200.000.000 đồng.

Thiệt hại do thu nhập bị mất của anh Kh, chị A trong thời gian lo tang lễ cháu H1 = 20.000.000 đồng.

Bị đơn anh Nguyễn Văn H trình bầy: Công an thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đã kết luận và không khởi tố vụ án hình sự đối với vụ tai nạn giao thông làm cháu H1 bị chết, anh xác định việc cháu H1 bị chết không phải do anh gây ra, anh hoàn toàn không có lỗi trong vụ tai nạn giao thông, anh đã tự nguyện phúng viếng 5.000.000 đồng và mong muốn tự nguyện hỗ trợ 50.000.000 đồng nhưng gia đình cháu H1 không đồng ý. Nay anh Kh chị A khởi kiện yêu cầu anh bồi thường 511.500.000 đồng, anh không đồng ý. Nếu anh Kh chị A không nhất trí với việc anh hỗ trợ gia đình 50.000.000 đồng mà vẫn yêu cầu anh bồi thường như đơn khởi kiện, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của Pháp luật và anh không tự nguyện hỗ trợ số tiền 50.000.000 đồng; đối với số tiền phúng viếng 5.000.000 đồng, anh tự nguyện không tính vào tiền bồi thường (nếu có).

Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu anh H bồi thường 511.500.000 đồng; chị Nguyễn Thị A xác định anh H phúng viếng số tiền 5.000.000 đồng.

Bị đơn xin vắng mặt tại phiên tòa và giữ nguyên quan điểm như bản tự khai, Biên bản hòa giải.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Từ khi thụ lý vụ án, Thẩm phán đã thụ lý đúng thẩm quyền, việc thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự, thời hạn giải quyết, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà Hội đồng xét xử đã tuân theo Pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Hướng giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 92; khoản 1 Điều 184; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 584; Điều 585; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 591; khoản 3 Điều 601 Bộ luật dân sự. Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án., đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Kh chị A. Buộc anh H phải bồi thường thiệt hại do tính mạng cháu Nguyễn Khả H1 bị xâm phạm cho anh Kh và chị A từ 74.350.000 đồng đến 91.050.000 đồng, trong đó: Chi phí mai táng là 34.250.000 đồng; tổn thất tinh thần từ 35.100.000 đồng đến 46.800.000 đồng tương đương từ 15 đến 20 tháng lương tối thiểu; thu nhập bị mất của anh Kh chị A từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Về án phí: Hoàn trả nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Anh H phải chịu án phí dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ của vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà, Hội đồng xét xử Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương có đủ cơ sở xác định:

Về tố tụng:

Về thời hiệu, thẩm quyền: Ngày 23/01/2023 cháu Nguyễn Khả H1 bị chết do tai nạn giao thông; anh Nguyễn Ngọc Kh và chị Nguyễn Thị A khởi kiện, yêu cầu anh Nguyễn Văn H bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tính mạng cháu Nguyễn Khả H1 bị xâm phạm; ngày 02/02/2024 Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương đã thụ lý vụ án, là trong hạn luật định theo quy định tại Điều 588 Bộ luật dân sự; bị đơn anh Nguyễn Văn H có đăng ký thường trú và cư trú tại Thôn V, xã K, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn anh Kh chị A yêu cầu Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương buộc anh H phải bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông làm tính mạng cháu Nguyễn Khả H1 bị xâm phạm, số tiền là 511.500.000 đồng. Căn cứ vào khoản 6 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.

Về việc ủy quyền: Theo Giấy ủy quyền ngày 21/02/2024 có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã Đông Xá, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, nguyên đơn anh Kh và chị A ủy quyền cho Ông Lương Văn Th tham gia tố tụng giải quyết toàn bộ vụ án, là ủy quyền hợp lệ, được chấp nhận.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Nguyễn Văn H có đơn xin xét xử vắng mặt, Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh H.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

Như nội dung vụ án nêu trên, tại Thông báo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm số 583/TB-ĐTTH ngày 24/5/2023 và Thông báo về việc không khởi tố vụ án hình sự số 584/TB-ĐTTH ngày 24/5/2023 của Công an thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh với lý do không có căn cứ về việc xe ô tô va chạm với xe đạp điện; không có sự việc phạm tội. Công an thị xã Thuận Thành xác định tai nạn nêu trên thuộc trường hợp sự kiện bất ngờ, anh H không có lỗi trong vụ tai nạn giao thông này. Nguyên đơn cũng xác định bị đơn anh H không có lỗi trong vụ tai nạn giao thông làm cháu Nguyễn Khả H1 bị chết.

Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Bị đơn anh H hoàn toàn không có lỗi gây ra vụ tai nạn giao thông làm cháu Nguyễn Khả H1 bị chết.

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại do tính mạng cháu H1 bị xâm phạm là 511.500.000 đồng.

Căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 601 Bộ luật dân sự, xe ô tô nhãn hiệu VinFats Lux SA màu xanh, BKS 34A-462.77 là của anh Nguyễn Văn H, do anh H điều khiển, là nguồn nguy hiểm cao độ. Trong vụ án này, mặc dù anh H không có lỗi trong vụ giao thông nhưng theo Công an thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh kết luận, vụ việc tai nạn giao thông xảy ra làm cháu H1 bị chết thuộc trường hợp sự kiện bất ngờ. Căn cử quy định tại khoản 3 Điều 601 Bộ luật dân sự, trường hợp này không thuộc trường hợp được loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn.

Nguyên đơn cung cấp:

1/ Hóa đơn thanh toán tiền chi thuê xe chở cháu H1 từ thị xã Thuận Thành về xã Đông Xá (tỉnh Thái Bình) = 12.500.000 đồng; tiền hoa, nến 4.950.000 đồng; tiền thuê hai đội kèn trống 11.500.000 đồng; tiền thuê hội trống 6.000.000 đồng; tiền thuê bát đĩa 10.500.000 đồng; tiền vải niệm 1.800.000 đồng. (Toàn bộ hóa đơn không có ngày giờ, không có tên người giao nhận).

2/ Hóa đơn mua quan tài = 15.000.000 đồng; chi phí xây mộ = 10.000.000 đồng; ốp đá mộ 30.000.000 đồng.

3/ Hóa đơn bán lẻ ngày 20/6/2003, người viết hóa đơn Nguyễn Văn Tuân. 02 bữa cơm đám 59 mâm x 500.000 đồng/mâm = 29.500.000 đồng.

Những tài liệu là hóa đơn do nguyên đơn cung cấp đều không hợp lệ, ngoài ra nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác. Do vậy, căn cứ Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, buộc anh H phải bồi thường chi phí cấp cứu, xe đưa cháu H1 từ thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đến xã Đông xá, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình là 4 triệu; tiền hoa, nến là 3 triệu; tiền vải niệm 1,8 triệu; tiền mua quan tài là 7 triệu; tiền xây mộ là 10 triệu.

Đối với chi phí bù đắp tổn thất tinh thần: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường 149.000.000 đồng. Do các đương sự không thỏa thuận được mức bồi thường, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn anh H bồi thường tổn thất tinh thần cho nguyên đơn 20 tháng lương cơ sở tại thời điểm xét xử vụ án là 2.340.000 đồng/tháng = 46.800.000 đồng.

Đối với yêu cầu bồi thường chi phí nuôi dưỡng cháu H1 = 200.000.000 đồng. Không có căn cứ chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại do thu nhập bị mất của anh Kh, chị A trong thời gian lo tang lễ cháu H1 = 20.000.000 đồng. Nguyên đơn không cung cấp được tài liệu chứng minh thu nhập thực tế tại thời điểm lo ma chay cho cháu H1, cũng không có xác nhận mức thu nhập bình quân đầu người tại địa phương anh Kh, chị A cư trú. Do vậy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 591 Bộ luật dân sự. Buộc anh Nguyễn Văn H phải bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc Kh và chị Nguyễn Thị A, thiệt hại do tính mạng cháu Nguyễn Khả H1 bị xâm phạm, tổng số tiền 72.600.000 đồng.

Đối với số tiền 5.000.000 đồng anh H phúng viếng trong tang lễ cháu H1, anh H không tính vào tiền bồi thường. Xét việc anh H không tính số tiền này vào tiền bồi thường là hoàn toàn tự nguyện, cần chấp nhận.

Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Đây là vụ án đòi bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự. Trả lại nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn anh Nguyễn Văn H bị buộc phải bồi thường trách nhiệm dân sự nên phải chịu án phí dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 92; khoản 1 Điều 184; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 584; Điều 585; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 591; khoản 3 Điều 601 Bộ luật dân sự. Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Ngọc Kh và chị Nguyễn Thị A.

2/ Buộc anh Nguyễn Văn H phải bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tính mạng cháu Nguyễn Khả H1 bị xâm phạm cho bố mẹ cháu H1 là anh Nguyễn Ngọc Kh, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn D, xã X, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh và chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1997. Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình tổng số tiền 72.600.000 (Bẩy mươi hai triệu sáu trăm ngàn) đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

3/ Chấp nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Văn H về việc không trừ số tiền phúng viếng 5.000.000 đồng vào tiền bồi thường.

4/ Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự.

Trả lại nguyên đơn anh Kh, chị A 12.775.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu ký hiệu:BLTU/23 số: 0001894 ngày 02/02/2024 (Ông Lương Văn Th nộp thay) của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

Anh Nguyễn Văn H phải chịu 3.630.000 đồng án phí dân sự.

5/ Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ