vanban.org

Bản án 12/2023/HS-ST — Hình sự

Tòa án Khu vực - QK3, án Quân khu 3 Tuyên án 03/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ Nguyễn Tiến H - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TOÀ ÁN QUÂN SỰ
KHU VỰC QUÂN KHU 3

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2023/HS-ST
Ngày 03/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC QUÂN KHU 3

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: 4/ Lê Văn Cường

Các Hội thẩm quân nhân:+ 1// Tạ Văn Hiểu;

+ 1// Trần Xuân Hiến.

- Thư ký phiên tòa: 2/ Đỗ Văn Duy, Thư ký Tòa án quân sự Khu vực Quân

khu 3.

- Đại diện Viện kiểm sát quân sự khu vực 32 tham gia phiên tòa: 3// Đinh

Thanh Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 03/8/2023, tại Phòng xử án, Tòa án quân sự Khu vực Quân khu 3 xét

xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2023/TLST- HS ngày 13/7/2023,

theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST-HS ngày 21/7/2023

đối với bị cáo:

Nguyễn Tiến H, tên gọi khác: Không, sinh ngày 03/9/1983 tại huyện K,

tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: Thôn M, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp:

Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn

giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Đào Thị T; có

vợ là Trịnh Hồng D và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh

năm 2014; tiền án: Ngày 24/4/2018 bị Tòa án nhân dân quận H1, Thành phố Hà

Nội xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về

tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 19/6/2020 bị Tòa án nhân dân huyện S,

Thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; tổng

hợp hình phạt H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 30 tháng tù;

tiền sự: Không; nhân thân: Đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích. Bị áp dụng

biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ” từ ngày 16/5/2023 đến ngày 24/5/2023, “Tạm

giam” từ ngày 25/5/2023 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Ông Phạm Ngọc K1, sinh ngày 01/01/1955; nơi cư trú: Số 08,

Đường H2, phố Đ1, phường N1, thành phố N2, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Tiến H đã

dùng thủ đoạn gian dối sử dụng lốc sữa đậu nành đóng gói giả làm thiết bị vật tư

y tế rồi thuê và nhận tiền ứng trước của người chuyển hàng.

Khoảng 6 giờ 20 phút ngày 06/5/2023, Nguyễn Tiến H điều khiển xe môtô

BKS: 89B1-078.71 (của bố đẻ là ông Nguyễn Văn N) đến khu vực ngã tư giao nhau giữa Đường L và Đường H3 thuộc phường P, thành phố N2, tỉnh Ninh Bình. Thấy ông Phạm Ngọc K1 là người lái xe ôm đang đứng chờ khách, H thuê ông K1 vào Bệnh viện Q, Cục H4, Quân khu C (địa chỉ: Phường P, thành phố N2, tỉnh Ninh Bình) lấy hàng là thiết bị y tế chở đến Trung tâm y tế huyện G, tỉnh Ninh Bình giao cho người nhận và thu tiền của khách hàng; tiền công vận chuyển là 200.000 đồng; ông K1 đồng ý. H đọc số điện thoại của mình cho ông K1 lưu để liên lạc, đồng thời bảo ông K1 chuẩn bị từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng để thanh toán trước tiền hàng. Sau đó, H vào cửa hàng tạp hóa mua một lốc sữa đậu nành nhãn hiệu Fami loại 6 hộp rồi cho vào túi ni lông màu đen buộc lại, bọc bên ngoài là túi ni lông màu hồng để giả là thiết bị vật tư y tế. Khoảng 7 giờ cùng ngày, tại khu vực đường đi giữa tòa nhà 7 tầng và tòa nhà hình chữ H5 của Bệnh viện Q, H đã đưa cho ông K1 gói hàng giả thiết bị vật tư y tế nêu trên và yêu cầu ông K1 thanh toán trước tiền hàng 4.050.000 đồng. Khi ông K1 đưa tiền xong, H mượn điện thoại ông K1 và xóa số điện thoại của mình trên danh bạ và lịch sử cuộc gọi trong máy điện thoại của ông K1. Sau đó, H điều khiển xe về nhà và chi tiêu hết số tiền trên. Ngày 16/5/2023, H đến Công an thành phố N2, tỉnh Ninh Bình đầu thú.

Đối với ông K1, sau khi đến Trung tâm y tế huyện G, ông K1 vào Khoa

dược để hỏi người nhận hàng nhưng không có ai nhận; ông K1 mở gói hàng ra xem thì phát hiện bên trong là 01 lốc sữa đậu nành nhãn hiệu Fami. Biết bị lừa, ông K1 đã đến cơ quan công an trình báo và giao nộp toàn bộ tang vật nêu trên.

Tại phiên tòa, bị cáo H thừa nhận các hành vi nêu trên. Ngoài ra, bị cáo còn

khai nhận: Sáng ngày 06/05/2023 tôi đi tới ngã tư giao nhau giữa Đường L với Đường H3 thì gặp một chú xe ôm (sau này tôi biết tên là K1) đang đứng trên vỉa hè, tôi hỏi “chú có biết chú T1 chạy xe ôm ở đây không”, “cháu đang tìm chú T1 để đi chuyển hàng thiết bị y tế từ Bệnh viện Q đến Trung tâm y tế huyện G, tiền công 200.000 đồng”. Chú K1 nói “để chú chở cho”. Tôi đọc số điện thoại của tôi cho chú K1 để chú nháy sang máy điện thoại của tôi. Sau khi đi mua 01 lốc sữa đậu nành và đóng gói để giả làm thiết bị vật tư y tế tôi đã gặp và giao cho chú K1 gói hàng nêu trên bên trong Bệnh viện Q và nhận của chú K1 4.050.000 đồng, rồi đi về nhà ở Hưng Yên chi tiêu hết số tiền nêu trên.

Lời khai của bị hại Phạm Ngọc K1 trong quá trình điều tra có nội dung:

Khoảng 6 giờ 20 phút ngày 6/5/2023, tôi đứng đợi khách đi xe ôm thì có một người đàn ông đến thuê chở thiết bị vật tư y tế từ Bệnh viện Q đến Trung tâm y tế huyện G với tiền công 200.000 đồng, tôi đồng ý. Sau khi nhận của người đàn ông gói hàng được bọc bên trong túi bóng, người này nói tôi thanh toán 4.050.000 đồng. Tôi đưa tiền cho người này xong, thì người này nói mượn điện thoại của tôi để lưu số điện thoại. Tôi chuyển gói hàng đến Trung tâm y tế huyện G nhưng không có người nhận, khi mở gói hàng ra thấy bên trong là lốc sữa Fami, lúc này tôi biết bị lừa nên đã đi trình báo cơ quan công an.

Tại Cáo trạng số 03/CT-VKSKV32 ngày 12/7/2023, Viện kiểm sát quân sự

khu vực 32 truy tố Nguyễn Tiến H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm

d khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên (KSV) giữ nguyên quyết định truy

tố đối với bị cáo Nguyễn Tiến H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm d

khoản 2 Điều 174 của BLHS.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi

phạm tội, hậu quả vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nguyên nhân,

điều kiện phạm tội, nhân thân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo. KSV đề nghị Hội

đồng xét xử (HĐXX):

Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt

tài sản”.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 174; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51;

khoản 1 Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến H 33 (ba mươi ba) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 16/5/2023).

Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS, các Điều 584, 585,

589 Bộ luật dân sự (BLDS) buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 4.050.000

đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đã nộp số tiền 4.050.000 đồng cho Tòa án quân sự Khu

vực Quân khu 3 theo Biên bản giao nhận tiền lập ngày 03/8/2023 để bồi thường

cho bị hại, nên đề nghị HĐXX ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: Quá trình giải quyết vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng

đã thu giữ và trả lại xe môtô BKS 89B1-078.71 và giấy tờ liên quan cho chủ sở

hữu theo Biên bản trả lại đồ vật, tài liệu ngày 12/7/2023 là đúng quy định của

pháp luật.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106

BLTTHS:

+ Tịch thu, tiêu hủy 01 lốc sữa đậu nành nhãn hiệu Fami là công cụ phạm

tội có đặc điểm như biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm ngày 11/5/2023 của

Công an thành phố N2, tỉnh Ninh Bình;

+ Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Samsung

Galaxy A12 là phương tiện phạm tội có đặc điểm như biên bản tiếp nhận người

phạm tội ra đầu thú ngày 16/5/2023 của Công an thành phố N2, tỉnh Ninh Bình.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; Luật

Phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và

lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và

300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo H đồng ý với nội dung luận tội của KSV và không có ý kiến tranh

luận gì.

Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra thành phố

N2, tỉnh Ninh Bình; Cơ quan Điều tra hình sự khu vực 4 Quân khu 3; Viện kiểm sát quân sự khu vực 32; Điều tra viên; KSV thực hiện đúng thẩm quyền, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX thấy các hành vi, quyết định của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong vụ án đều thực hiện hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

Lời khai của bị cáo, bị hại và các chứng cứ khác đã được thẩm tra xác

minh tại phiên tòa hoàn toàn khách quan và phù hợp với nhau; nội dung lời luận tội và kết luận của KSV là có căn cứ pháp luật. Từ những căn cứ nêu trên, HĐXX có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 7 giờ ngày 06/5/2023, tại khu vực đường đi giữa Tòa nhà 7 tầng và Tòa nhà hình chữ H5 của Bệnh viện Q, Nguyễn Tiến H đã có thủ đoạn gian dối dùng 01 lốc sữa đậu nành nhãn hiệu Fami đóng gói bên trong bằng túi ni lông màu đen, bên ngoài bằng túi ni lông màu hồng để giả là thiết bị vật tư y tế và thuê ông Phạm Ngọc K1 đi giao tại Trung tâm y tế huyện G, tỉnh Ninh Bình với tiền công là 200.000 đồng và đã chiếm đoạt của ông K1 4.050.000 đồng.

Ngoài hành vi nêu trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số 109/2018/HSST ngày

24/4/2018, bị cáo H bị Tòa án nhân dân quận H1, Thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 tháng. Trong thời gian thử thách của bản án này, H lại tiếp tục thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên bị Tòa án nhân dân huyện S, Thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 66/2020/HSST ngày 19/6/2020 với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích thì đến ngày 06/5/2023 lại dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của ông K1 số tiền 4.050.000 đồng nên thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 BLHS. Do vậy hành vi của bị cáo đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 BLHS.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không

có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn

năn hối cải; bồi thường xong thiệt hại; bị cáo được tặng 01 Bằng khen, 01 danh hiệu Chiến sĩ giỏi; bị cáo đầu thú; bố đẻ bị cáo được tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang và được các cơ quan, đoàn thể tỉnh Hưng Yên tặng 01 bằng khen, 03 Giấy khen; nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.

Bị cáo đã hai lần bị kết án, chưa được xóa án tích nên có nhân thân xấu; bị

cáo là lao động chính trong gia đình, có ba con còn nhỏ tuổi.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền

sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an

toàn xã hội, ảnh hưởng đến uy tín của Bệnh viện Q. Xem xét tính chất, mức độ

nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân

thân và hoàn cảnh gia đình của bị cáo. HĐXX thấy rằng cần áp dụng khoản 1 Điều

38 BLHS cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo

dục, cải tạo thành người tốt.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

Về các biện pháp tư pháp

Sau khi xảy ra vụ án, ông K1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền bị

chiếm đoạt là 4.050.000 đồng. HĐXX xét thấy yêu cầu đòi bồi thường của ông

K1 là có căn cứ pháp luật. Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 BLHS và các Điều 584,

585, 589 BLDS buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm bồi thường số tiền trên cho bị

hại. Ghi nhận tại phiên tòa bị cáo đã nộp số tiền 4.050.000 đồng cho Tòa án quân

sự Khu vực Quân khu 3 theo Biên bản giao nhận tiền lập ngày 03/8/2023 để bồi

thường cho bị hại.

Về xử lý vật chứng

Quá trình giải quyết vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng đã thu giữ và trả lại

xe môtô BKS 89B1-078.71 và giấy tờ liên quan cho chủ sở hữu theo Biên bản trả

lại đồ vật, tài liệu ngày 12/7/2023 là đúng quy định của pháp luật nên HĐXX

không đặt ra xem xét, giải quyết.

Đối với 01 lốc sữa đậu nành của bị cáo có đặc điểm như Biên bản tiếp nhận

nguồn tin về tội phạm ngày 11/5/2023 của Công an thành phố N2, tỉnh Ninh Bình

là công cụ mà bị cáo sử dụng để phạm tội, nhưng không có giá trị nên căn cứ điểm

a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A12 của bị cáo có đặc điểm

như biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú ngày 16/5/2023 của Công an

thành phố N2, tỉnh Ninh Bình mà bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên

căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch

thu, sung vào ngân sách nhà nước.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của BLTTHS;

Luật Phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí

và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000

đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 260 của BLTTHS

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình sự

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến H phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 174; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51;

khoản 1 Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến H 33 (ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 16/5/2023).

2. Về biện pháp tư pháp

Áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS và các Điều 584, 585, 589 BLDS buộc bị

cáo phải chịu trách nhiệm bồi thường số tiền 4.050.000 (Bốn triệu không trăm năm mươi nghìn) đồng cho bị hại Phạm Ngọc K1. Ghi nhận bị cáo đã nộp số tiền trên cho Tòa án quân sự Khu vực Quân khu 3 theo Biên bản giao nhận tiền lập ngày 03/8/2023 để bồi thường cho bị hại.

3. Về xử lý vật chứng

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106

BLTTHS:

+ Tịch thu, tiêu hủy 01 lốc sữa đậu nành của bị cáo có đặc điểm như biên

bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm ngày 11/5/2023 của Công an thành phố N2, tỉnh Ninh Bình;

+ Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Samsung

Galaxy A12 của bị cáo có đặc điểm như biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú ngày 16/5/2023 của Công an thành phố N2, tỉnh Ninh Bình.

4. Về án phí

Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS, bị cáo Nguyễn

Tiến H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (03/8/2023) đối với bị

cáo và kể từ ngày nhận được bản án đối với bị hại; bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án này lên Toà án quân sự Quân khu 3./.

Cỡ chữ