vanban.org

Bản án 12/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 08/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Kiều Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Kiều Anh T 45 (Bốn mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (20/7/2022). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Về dân sự và xử lý vật chứng của vụ án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "KIỀU ANH T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Kiều Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGHI SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2023/HS-ST
Ngày: 08-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Thế Hải

2. Ông Mai Đức Danh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 02 năm 2023, tại Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 151/2022/TLST-HS ngày 30/12/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST-HS ngày 27/01/2023 đối với bị cáo:

Kiều Anh T - Sinh ngày 14/8/1977, tại xã K, thị xã S, thành phố H; Nơi cư trú: Thôn N, xã K, thị xã S, thành phố H; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Kiều Văn Th - Sinh năm 1952 và con bà: Nguyễn Thị H - Sinh năm 1952; Có vợ: Bùi Hồng Nh - Sinh năm 1991 (Đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2018;

Tiền án:

- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 222/HSST ngày 09/09/ 2002 của TAND tỉnh Thanh Hóa, bị tuyên phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 138 BLHS năm 1999;

- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2007/HSST, ngày 28/02/2007 của Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, bị tuyên phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 BLHS năm 1999;

- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2010/HSST ngày 12/01/2010 của Toà án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, bị tuyên phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 133 BLHS năm 1999;

- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2020/HSST ngày 08/12/2020 của Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội, bị tuyên phạt 12 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS năm 2015.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 150/HSST ngày 22/11/1995 của Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội (trước là tỉnh Hà Tây), bị tuyên phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/HSST ngày 11/12/ 1998 của Toà án nhân dân huyện Krong Buk, tỉnh Đắk Lắk bị tuyên phạt 18 tháng tù về về tội “Trộm cắp tài sản”;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/7/2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

1. Chị Nguyễn Thị Thuý G - Sinh năm 1985

Địa chỉ: Khối 8, phường Tr, thành phố V, tỉnh N

2. Chị Nguyễn Thị Ng - Sinh năm 1974

Địa chỉ: Khối 3, phường Tr, thành phố V, tỉnh Nghệ An

* Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Hữu M – Sinh năm 1964

Địa chỉ: Thôn 7, xã Cẩm M, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh

2. Chị Lê Thanh H – Sinh năm 1975

Địa chỉ: Thôn 4, xã V, huyện Ph, tỉnh Thừa Thiên Huế

3. Anh Đặng Đan Tr – Sinh năm 2003

Địa chỉ: Thôn 5, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế

4. Anh Nguyễn Hữu P – Sinh năm 1983

Địa chỉ: Số 12, Ngõ 156, đường Ng, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An

5. Anh Mai Xuân D – Sinh năm 1967

Địa chỉ: Xã Vinh H, huyện Ph, tỉnh Thừa Thiên Huế

6. Anh Nguyễn Hải Đ – Sinh năm 1975

Địa chỉ: Tổ dân phố 14, thị trấn Cẩm X, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh

7. Anh Nguyễn Ngọc H – Sinh năm 1976

Địa chỉ: Thôn 9, xã Th, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh

8. Anh Phan Thế H – Sinh năm 1983

Địa chỉ: Số nhà 06, ngõ 181, đường M, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh

Tất cả người bị hại và người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Kiều Anh T là đối tượng có nhiều tiền án về tội trộm cắp tài sản, trong các ngày 03/6/2021 và 03/7/2022, T đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tiền và tài sản trên xe khách chạy tuyến Bắc - Nam, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 02 giờ 30 phút ngày 03/6/2021, T đón xe ô tô khách giường nằm có logo Dưỡng Huế, biển kiểm soát 75B - 01297 chạy tuyến Bắc - Nam trên Quốc lộ 1A từ thị trấn Cẩm Xuyên, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh đi vào phía Nam. Khi lên xe T được bố trí nằm tại giường tầng 1 của dãy giường sát với cửa ra vào. Khoảng 15 phút sau, T quan sát thấy có một hành khách là chị Nguyễn Thị Thuý G đang nằm ngủ ở hàng giường giữa gần với T, dưới chân có để một túi xách màu đen, T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên sang giường của chị G lấy chiếc túi xách rồi quay về giường của mình, T lục túi lấy tiền và 02 chiếc điện thoại di động bên trong, gồm 01 chiếc Iphone Xsmax và 01 chiếc Oppo K7 bỏ vào trong ba lô của mình rồi bỏ lại túi xách về giường chị G. Sau đó, xe đến đoạn đường tránh thành phố Hà Tĩnh, T xuống xe đón xe ô tô đi về nhà T tại Hà Nội. Khi về đến nhà T lấy tài sản vừa trộm cắp được ra kiểm tra, thì không thấy 02 chiếc điện thoại nữa, còn số tiền thì kiểm đếm được là 60.000.000 đồng (số lượng, mệnh giá tiền cả bị can và bị hại không nhớ). Toàn bộ số tiền trên, T đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Về phần chị G, khi xe ô tô khách dừng lại tại địa phận xã Tân Lâm Hương, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, lúc này khoảng 03 giờ 45 phút cùng ngày, chị G mới phát hiện mình bị mất trộm tiền và điện thoại nên đã trình báo Công an huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã yêu cầu định giá tài sản là 02 chiếc điện thoại chị Nguyễn Thị Thúy G đã mất trộm. Tại công văn số 05/HĐĐGTS, ngày 23 tháng 8 năm 2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Thạch Hà trả lời không có đủ căn cứ để tiến hành định giá đối với tài sản là 02 chiếc điện thoại nêu trên. Vì không đủ căn cứ để định giá.

Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh trích xuất dữ liệu Camera trên xe ô tô khách 75B - 01297 chứa đoạn video ghi lại hình ảnh Kiều Anh T trộm cắp tài sản của chị Nguyễn Thị Thúy G nêu trên. Tại bản kết luận giám định số 865/KL-KTHS, ngày 18/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh, kết luận không tìm thấy dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong tệp tin video của đĩa DVD gửi giám định.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 03 giờ ngày 04/7/2022, T đón xe khách giường nằm có logo Việt Trì, biển kiểm soát 26B - 007.47 chạy tuyến Bắc - Nam trên Quốc lộ 1A từ ngã ba Cung thuộc phường Tân Dân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đi vào phía Nam. Khi lên xe T được sắp xếp nằm giường phía trên bên trái ngay cạnh cửa ra vào xe. Quan sát xung quanh, thấy ở tầng trên dãy giường đôi thứ hai tính từ trên xuống có một hành khách là chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1974, trú tại khối 3, phường Tr, thành phố V, tỉnh N đang nằm ngủ ở giường phía trong, giường phía ngoài còn trống, nên T leo lên chiếc giường trống này nằm để tìm cơ hội trộm cắp tài sản. Sau khi thấy chị Ng đã ngủ say, nhìn thấy ở hộc để chân của chị Ng có một chiếc túi xách không khóa, T thò tay vào bên trong túi lục tìm tài sản. Phát hiện bên trong có một chiếc ví, loại ví ngang cầm tay có khoá, T mở khoá ví lấy toàn bộ số tiền bên trong bỏ vào túi quần, sau đó xin xuống xe tại khu vực cầu vượt thuộc xã Tân Trường, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá, rồi đón xe quay về Hà Nội. Khi lên xe, T lấy số tiền trộm cắp được ra kiểm đếm được 14.400.000 đồng, gồm có 02 loại mệnh giá là 200.000 đồng và 500.000 đồng, nhưng T không nhớ chính xác số lượng tờ của từng loại mệnh giá. Số tiền trên, T đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết 9.000.000 đồng, số còn lại 5.400.000 đồng, sau khi bị bắt T đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn.

Tại bản kết luận giám định số 2682/KL-KTHS, ngày 08/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận 19 tờ tiền gồm 07 tờ tiền mệnh giá 500.000đ, 08 tờ tiền mệnh giá 200.000đ, 02 tờ tiền mệnh giá 100.000đ, 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng là tiền thật.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra còn trích xuất dữ liệu Camera trên xe ô tô khách 26B - 007.47 chứa đoạn video ghi lại hình ảnh Kiều Anh T trộm cắp tài sản của chị Nguyễn Thị Ng nêu trên. Tại bản kết luận giám định số 3934/KL-KTHS, ngày 10/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 2 tệp video của 01 USB gửi giám định.

Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn tạm giữ vật chứng gồm: Số tiền 5.400.000đ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen loại A54, imei 1: 862366051350493, imei 2: 862366051350412 đã qua sử dụng bên trong lắp sim số: 0965.333.060; 0376.588.662; 01 quần bò màu đen không có nhãn mác, đã qua sử dụng, 01 balo màu đen có dòng chữ “Haibo” màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Kiều Anh T.

Sau khi tiến hành xác minh nguồn gốc, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Ng là chủ sở hữu hợp pháp số tiền 5.400.000đ; trả lại cho người đại diện hợp pháp của bị can Kiều Anh T là bà Nguyễn Thị H (mẹ đẻ của T) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen loại A54, imei 1: 862366051350493, imei 2: 862366051350412 đã qua sử dụng bên trong lắp sim số: 0965.333.060; 0376.588.662 do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Đối với 01 quần bò màu đen không có nhãn mác, đã qua sử dụng, 01 balo màu đen có dòng chữ “Haibo” màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Kiều Anh T, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn phục vụ công tác xét xử.

Về trách nhiệm dân sự:

- Chị Nguyễn Thị Thuý G từ chối yêu cầu Tiến phải đền bù toàn bộ số tài sản đã trộm cắp của chị.

- Chị Nguyễn Thị Ng yêu cầu Tiến bồi thường tiếp số tiền 9.000.000 đồng.

Bản cáo trạng số 13/CT-VKSNS ngày 28/12/2022 của VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Kiều Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

* Tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị:

- Áp dụng: Điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Kiều Anh T.

- Mức hình phạt mà VKS đề nghị xử phạt đối với bị cáo Kiều Anh T từ 42 tháng đến 48 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/7/2022.

- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn đã trả lại cho:

+ Chị Nguyễn Thị Ng số tiền 5.400.000đ;

+ Kiều Anh T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen loại A54, imei 1: 862366051350493, imei 2: 862366051350412 đã qua sử dụng bên trong lắp sim số: 0965.333.060; 0376.588.662 do không liên quan đến hành vi phạm tội (bà Nguyễn Thị H - mẹ đẻ của Kiều Anh T nhận);

+ Chị Nguyễn Thị Thuý G không yêu cầu Kiều Anh T phải đền bù toàn bộ số tài sản đã trộm cắp của chị nên đề nghị HĐXX không xem xét;

+ Buộc Kiều Anh T phải tiếp tục bồi thường tiếp số tiền 9.000.000 đồng cho chị Nguyễn Thị Ng.

+ Đề nghị HĐXX tuyên tiêu hủy 01 quần bò màu đen không có nhãn mác, đã qua sử dụng và 01 balo màu đen có dòng chữ “Haibo” màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Kiều Anh T vì tại phiên tòa bị cáo đề nghị không nhận lại.

- Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng:

Thủ tục chuyển và nhập vụ án: Ngày 22/07/2022 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 103/CSĐT và Quyết định khởi tố bị can số 175/CSĐT đối với Kiều Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tuy nhiên trước đó ngày 27/07/2021 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã có Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 48/CSĐT, nhưng đến ngày 28/03/2022 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã có Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự với lý do đã hết thời hạn điều tra nhưng chưa xác định được bị can. Đến ngày 22/08/2022 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh đã ra quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự số 03/QĐ-CSĐT đồng thời ra Quyết định khởi tố bị can số 149/CSĐT đối với Kiều Anh Tiến.

Ngày 04/10/2022 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Quyết định chuyển vụ án hình sự số 04/QĐ-VKS-P2 đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa để điều tra theo thẩm quyền. Ngày 10/10/2022 cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã ban hành quyết định nhập vụ án hình sự số 10/QĐ-CSĐT để điều tra theo quy định của pháp luật. Do đó thủ tục chuyển và nhập vụ án của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh và cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Công an huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, Công an thị xã Nghi Sơn và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà sơ thẩm công khai hôm nay, bị cáo Kiều Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với tang vật vụ án, lời khai của bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cũng như các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà hôm nay. Do đó có đủ căn cứ để khẳng định VKSND thị xã Nghi Sơn truy tố bị cáo Kiều Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng.

Xét tính chất vụ án: Bị cáo là người có đủ năng lực về mọi mặt để nhận thức được “Trộm cắp tài sản” là hành vi vi phạm pháp luật và là tội phạm. Song, do muốn có nhiều tiền để tiêu sài cá nhân nên bị cáo đã bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử buộc phải chịu một hình phạt là cần thiết và cần phải có đường lối xử lý tương xứng với hành vi và hậu quả mà các bị cáo đã gây ra.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, HĐXX thấy rằng:

Bị cáo là người có nhân thân xấu và đang có 04 tiền án, trong đó có tới 4 lần bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 lần bị xét xử về tội “ Cướp tài sản”. Sau khi chấp hành xong án trở về địa phương chỉ được một thời gian ngắn bị cáo lại tiếp tục nhiều lần “Trộm cắp tài sản” ở các địa phương, các tỉnh khác nhau. Lần này bị cáo phạm tội với 02 tình tiết định khung quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 và 01 tình tiết tăng nặng đó là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại các điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Điều đó chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật và cố ý thực hiện tội phạm. Với nhân thân và hành vi phạm tội của bị cáo, nghĩ cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo.

Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, tự nguyện giao nộp cho cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn số tiền 5.400.000đ để trả lại cho chị Nguyệt. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về dân sự và xử lý vật chứng của vụ án: Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn đã trả lại cho:

+ Chị Nguyễn Thị Ng số tiền 5.400.000đ;

+ Kiều Anh T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen loại A54, imei 1: 862366051350493, imei 2: 862366051350412 đã qua sử dụng bên trong lắp sim số: 0965.333.060; 0376.588.662 do không liên quan đến hành vi phạm tội (bà Nguyễn Thị H - mẹ đẻ của T nhận);

+ Chị Nguyễn Thị Thuý G không yêu cầu Tiến phải đền bù toàn bộ số tài sản đã trộm cắp của chị nên đề nghị HĐXX không xem xét;

+ Buộc T phải tiếp tục bồi thường tiếp số tiền 9.000.000 đồng cho chị Nguyễn Thị Nguyệt.

+ Tiêu hủy 01 quần bò màu đen không có nhãn mác, đã qua sử dụng và 01 balo màu đen có dòng chữ “Haibo” màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Kiều Anh T vì tại phiên tòa bị cáo đề nghị không nhận lại vì xét thấy không còn giá trị sử dụng.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thì bị cáo không có nghề nghiệp ổn định. Do đó, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Kiều Anh T.

- Tuyên bố: Bị cáo Kiều Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt: Kiều Anh T 45 (Bốn mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (20/7/2022). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

- Về dân sự và xử lý vật chứng của vụ án:

+ Buộc Kiều Anh T phải tiếp tục bồi thường tiếp số tiền 9.000.000 đồng cho chị Nguyễn Thị Ng.

+ Tiêu hủy 01 quần bò màu đen không có nhãn mác, đã qua sử dụng và 01 balo màu đen có dòng chữ “Haibo” màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Kiều Anh Tiến.

(Theo phiếu nhập kho số NK 2023/17 ngày 17/01/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn)

- Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23, điểm b khoản 1 Điều 24 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Kiều Anh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 450.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt chị G và chị Ng tại phiên tòa. Tuyên bố bị cáo được quyền kháng cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Chị Giang và chị Nguyệt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại UBND cấp xã nơi người đó cư trú.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ