vanban.org

Bản án 12/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lai Châu, tỉnh Lai Châu Tuyên án 21/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Va T - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LAI CHÂU
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2023/HS-ST
Ngày: 21-02-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Chí Sung

Bà Lò Hải Yến

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Lệ Quyên– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Lệ Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2023/TLST – HS ngày 12/01/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2023/QĐXXST-HS ngày 07/02/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T (tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam, sinh năm 1994 tại thành phố Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: Thôn L, xã X, huyện S, thành phố Hà Nội; Nơi ở trước khi bị bắt: Quế Võ 1, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Không xác định được và bà Nguyễn Thị L (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1996; Con: Có 01 con, con lớn sinh năm 2016; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền sự: Không; Tiền án: Có 02 tiền án: Ngày 21/3/2013, bị Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và 18 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội là 42 tháng tù, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.536.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; Ngày 11/4/2017, bị Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội áp dụng khoản 1 Điều 138, Điều 33, Điều 41, điểm g, p khoản 1 Điều 46, điểm g (tái phạm) khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, truy thu số tiền 500.000 đồng và buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 03/12/2017, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa chấp hành xong phần án phí và số tiền truy thu. Hiện bị cáo chưa được xóa án tích; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 22/10/2022 đến ngày 28/10/2022 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu (Có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Chị Phan Thị Th, sinh năm 1997;

Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Địa chỉ: Bản S, xã S. thành phố L, tỉnh Lai Châu, (Vắng mặt có lý do);

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Thân Văn H, sinh năm 1993;

Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Địa chỉ: Thân N, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang, (Vắng mặt có lý do);

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 9/2022, qua mạng xã hội tiktok, Nguyễn Văn T đã dùng tài khoản tiktok “Sơn Thám Tử” của T để làm quen với tài khoản “Tủn Xinh” của chị Phan Thị Th – sinh năm 1997, trú tại Bản S, xã S. thành phố L, tỉnh Lai Châu. Quá trình làm quen và nói chuyện với Th qua mạng xã hội, T đưa ra thông tin giả về nhân thân của T tên là Nguyễn Văn Sơn – sinh năm 1988, trú tại thôn Xuân Dục, xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

Đến tối ngày 07/10/2022, Nguyễn Văn T một mình đi xe khách từ tỉnh Bắc Ninh đến thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu để gặp Th. Đến nơi T vào nhà Th ở Bản S, xã S. thành phố L, tỉnh Lai Châu. Trong thời gian ở nhà Th, T biết Th có 01 chiếc xe mô tô BKS 25B1- 554.24, màu đen xám nhãn hiệu HONDA, loại VISION nên nảy sinh ý định lừa đảo để chiếm đoạt chiếc xe này. Sáng ngày 15/10/2022, T nói với Th muốn mượn chiếc xe trên để đi mua nước, Th đồng ý. Sau đó, T không đi mua nước mà điều khiển chiếc xe trên đi đến thôn Quế Võ 1, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Đến sáng ngày 16/10/2022, T tiếp tục đi chiếc xe trên đến quán game ở khu đô thị Đình Trám, thị trấn Sen Hồ, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Tại đây T gặp và thỏa thuận bán chiếc xe trên cho chủ quán game là anh Thân Văn H (sinh năm 1993, trú tại Thân N, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang). Để bán được chiếc xe trên T đã đưa ra thông tin giả rằng chiếc xe này là của vợ T là Phan Thị Th kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 25B1 – 554.24 và hình ảnh thẻ căn cước công dân mang tên Phan Thị Th cho Huấn xem. Do tin tưởng, Huấn đã đồng ý mua chiếc xe giá 20.000.000 đồng. Sau đó T đã dùng số tiền này chi tiêu cá nhân và chơi game hết.

Ngày 22/10/2022, chị Th gửi đơn trình báo về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của T đến Công an thành phố Lai Châu. Lúc này T cũng biết hành vi phạm tội của T đã bị phát hiện, nên hồi 14 giờ cùng ngày 22/10/2022 T đã đến Công an thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐ ĐGTS ngày 25/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Uỷ ban nhân dân thành phố Lai Châu kết luận: 01 xe mô tô BKS 25B1-554.24, nhãn hiệu HONDA, số loại: VISION; màu sơn: đen xám; số khung: RLHJF5834KY007455; số máy: JF86E2071879, xe đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 16/10/2022 là: 31.000.000 đồng.

Kết quả điều tra xác định:

Tại Bản án số 46 ngày 11/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội áp dụng khoản 1 Điều 138, Điều 33, Điều 41, điểm g, p khoản 1 Điều 46, điểm g (tái phạm) khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, truy thu số tiền 500.000 đồng và buộc Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 03/12/2017, bị cáo Nguyễn Văn T chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa chấp hành xong về phần án phí và số tiền truy thu. Như vậy, tính đến lần phạm tội ngày 15/10/1022 Bị cáo chưa được xoá án tích.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe mô tô BKS 25B1-554.24, nhãn hiệu HONDA, số loại: VISION; màu sơn: đen xám; số khung: RLHJF5834KY007455; số máy: JF86E2071879, xe cũ đã qua sử dụng.

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 047348 mang tên Phan Thị Th cấp ngày 21/01/2019 do Công an tỉnh Lai Châu cấp.

- 01 điện thoại OPPO A12e, màu đỏ, số IMEIL 1: 967178043536313; số IMEIL 2: 867178043536305, điện thoại cũ đã qua sử dụng.

Cáo trạng số 03/CT- VKSTP, ngày 12/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị Nguyễn Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Đề nghị áp dụng d khoản 2 Điều 174, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2022.

- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

- Về vật chứng vụ án và biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại OPPO A12e, màu đỏ, số IMEIL 1: 967178043536313; số IMEIL 2: 867178043536305, điện thoại cũ đã qua sử dụng.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự và Điều 48 Bộ luật hình sự

Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Thân Văn H số tiền 20.000.000 đồng.

- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên rất hối hận, ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai đã khai báo tại cơ quan điều tra về quá trình thực hiện hành vi phạm tội, cũng như vật chứng thu giữ trong vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 15/10/2022, tại Bản S, xã S. thành phố L, tỉnh Lai Châu, bị cáo Nguyễn Văn T đã đưa ra thông tin gian dối, sai sự thật rồi chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại VISION, biển kiểm soát 25B1- 554.42 của chị Phan Thị Th trị giá 31.000.000 đồng.

Bị cáo đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó, lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” là tình tiết định khung hình phạt. Bị cáo Nguyễn Văn T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản " được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự;

Điều luật quy định:

Điều luật quy định:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

....

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

....

d. Tái phạm nguy hiểm

....

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thì thấy:

Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét toàn diện về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Về nhân thân: Bị cáo có 02 tiền án: Ngày 21/3/2013, bị Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và 18 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội là 42 tháng tù, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.536.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; Ngày 11/4/2017, bị Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội áp dụng khoản 1 Điều 138, Điều 33, Điều 41, điểm g, p khoản 1 Điều 46, điểm g (tái phạm) khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; các Điều 76, 99, 231, 234 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003; Điều 22 Pháp lệnh án phí, lệ phí tòa án năm 2009 xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, truy thu số tiền 500.000 đồng và buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 03/12/2017, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa chấp hành xong phần án phí và số tiền truy thu. Hiện bị cáo chưa được xóa án tích. Bị cáo đã tái phạm chưa được xóa án tích, lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý. Do đó, lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” là tình tiết định khung hình phạt.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Ngày 22/10/2022 bị cáo đã đến Công an thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

- 01 xe mô tô BKS 25B1-554.24, nhãn hiệu HONDA, số loại: VISION; màu sơn: đen xám; số khung: RLHJF5834KY007455; số máy: JF86E2071879, xe cũ đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 047348 mang tên Phan Thị Th cấp ngày 21/01/2019 do Công an tỉnh Lai Châu cấp. Kết quả điều tra xác định chiếc xe mô tô BKS 25B1-554.24 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Phan Thị Th là tài sản hợp pháp của chị Phan Thị Th nên ngày 23/12/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lai Châu đã trả lại cho chị Phan Thị Th. Xét việc trao trả trên là đúng quy định của pháp luật, nên cần chấp nhận.

01 điện thoại OPPO A12e, màu đỏ, số IMEIL 1: 967178043536313; số IMEIL 2: 867178043536305, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Xét liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tịch thu, hóa giá nộp ngân sách Nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa bị hại chị Phan Thị Th có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, nên không xem xét.

Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Thân Văn H có đơn xin xét xử vắng mặt và anh có yêu cầu bị cáo phải trả cho anh số tiền 20.000.000 đồng. Xét yêu cầu của anh Huấn là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Đối với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu là có căn cứ, nên cần chấp nhận.

Trong vụ án này:

Đối với Thân Văn H, sinh năm 1993, trú tại Thân N, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang, là người đã mua chiếc xe của T do lừa đảo mà có. Kết quả điều tra xác định khi mua xe anh Huấn không biết chiếc xe trên do T phạm tội mà có nên hành vi của anh Huấn không phạm tội.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 174, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự: áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

[1] Về tội danh

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

[2] Về hình phạt

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2022.

[3] Về xử lý vật chứng

Tịch thu, hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại OPPO A12e, màu đỏ, số IMEIL 1: 967178043536313; số IMEIL 2: 867178043536305, điện thoại cũ đã qua sử dụng.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 16 giờ 00 phút ngày 12/01/2023, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lai Châu và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lai Châu).

[4] Về trách nhiệm dân sự

Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải có nghĩa vụ trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Thân Văn H số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

[5] Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng (một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi tương ứng với số tiền chậm thi hành án tại thời điểm thanh toán. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự; nếu không thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.

Trong trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7b và Điều 9, Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ