vanban.org

Bản án 12/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 08/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo: Hoàng Phú L 13 (Mười ba) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giữ - ngày 23/9/2022.

Về dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Phú L có nghĩa vụ bồi tH cho bị hại – chị Hoàng Thị H tổng số tiền là 50.233.000 đồng; gia đình bị cáo đã bồi tH 20.000.000 đồng; bị cáo còn phải bồi tH tiếp số tiền là 30.233.000 đồng (Ba mươi triệu hai trăm ba mươi ba nghìn đồng). Kể từ ngày chị Hoàng Thị H có đơ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng PHú L - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo: Hoàng Phú L 13 (Mười ba) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giữ - ngày 23/9/2022.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2023/HS-ST
Ngày 13-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Minh Phương

Thẩm phán: Bà Trần Thị Vân Thuý

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Xuân Quyết

Ông Phạm Mạnh Hùng

Ông Hoàng Minh Hiếu

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hấn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Thuý Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 200/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 212/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:

Hoàng Phú L, sinh ngày 27 tháng 4 năm 1988; tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn 5, xã TH, huyện TN, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Phú T và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Hoàng Thị H, sinh năm 1995 (đã ly hôn) và 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ từ ngày 23/9/2022; tạm giam ngày 28/9/2022; có mặt;

Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Phú L:

1. Ông Lê H - Luật sư của Công ty Luật TNHH MTV H, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hải Phòng; có mặt;

2. Ông Lê N– Luật sư Văn phòng Luật sư LH, thuộc Đoàn luật sư thành phố Hải Phòng; có mặt;

- Bị hại: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn 2, xã TH, huyện TN, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có ý định muốn đoàn tụ với vợ cũ là chị Hoàng Thị H nên khoảng 6 giờ 30 phút ngày 24/10/2019, Hoàng Phú L đi đến nhà ông Hoàng Văn Thướng (bố vợ cũ của L), ở thôn 2, xã TH, huyện TN để gặp chị H. Tại đây, L và chị H lời qua tiếng lại, cãi chửi nhau. Thấy chị H đi vào khu vực bếp nấu đồ ăn, bực tức vì chị H không đồng ý đoàn tụ nên L nảy sinh ý định giết chị H. L lấy một con dao (dạng dao phay), dài 41cm ở khu vực mặt bể giáp lối đi vào bếp, tiến sát đến chỗ chị H, tay trái túm tóc ấn đầu chị H xuống sát mặt bệ bếp cao so với nền bếp 74cm, tay phải cầm dao chém 02 nhát vào gáy chị H, vừa chém vừa nói “tao chém chết mày” làm chị H bị ngã xuống nền bếp. Ngay sau đó L nói “cả hai phải chết” rồi lấy một con dao khác, dài 21cm trong bếp tự cứa vào cổ mình. Thấy vậy chị H van xin “Anh đừng chết, anh đưa em đi bệnh viện cấp cứu để em sống nuôi con”. Thấy vậy, L buông dao, sau đó đưa chị H đến bệnh viện đa khoa huyện TN cấp cứu rồi bỏ trốn khỏi địa phương.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra đã ghi nhận một số dấu vết nghi máu dạng nhỏ giọt và chùi quệt rải rác trên diện (187 x 230) cm trên nền bếp. Đồng thời thu giữ tại khu vực bếp nhà chị H: 01 dao bằng kim loại tối màu dài tổng thể 41cm, cán dài 11cm, bản rộng nhất dài 06cm, có một lưỡi sắc, đầu bằng, bề mặt lưỡi dao bám dính tạp chất nghi máu; 01 dao bằng kim loại tối màu dài tổng thể 24cm, cán dao bằng nhựa dài 10cm, bản rộng nhất thân dao là 04 cm, dao có một lưỡi sắc, đầu bằng và thu giữ một số mẫu dấu vết nghi máu tại nền bếp. Ngày 24/10/2019, khám xét khẩn cấp nơi ở của L, Cơ quan điều tra thu giữ được: 01 áo phông dài tay màu trắng, cổ tròn, phần cổ áo có chữ “Tevez”, phần tay áo và lưng áo có bám dính tạp chất nghi máu.

Tại Bản kết luận giám định số 556/2019/TGT ngày 03/12/2019 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận: Nạn nhân Hoàng Thị H bị vết thương vùng chẩm cổ gây đứt cơ cạnh sống. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích trên gây ra là 13%. Thương tích có đặc điểm do vật sắc tác động trực tiếp theo hướng gần như vuông góc với bề mặt da nơi tổn thương gây nên

Tại Kết luận giám định số 140/GĐSH/2019 ngày 16/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Trên dao bằng kim loại dài 41cm gửi giám định có máu người, là máu lẫn của chị Hoàng Thị H và máu của người nam giới. Trên áo phông ngắn tay màu trắng thu giữ tại nơi ở của Hoàng Phú L và mẫu dấu vết màu nâu đỏ thu tại hiện trường gửi giám định có máu người, là máu của Hoàng Thị H. Trên dao bằng kim loại tối màu dài tổng thể 24cm có máu người, mẫu dấu vết đã biến tính, không xác định được kiểu gen.

Tại Kết luận giám định số 140A/GĐSH/2020 ngày 29/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Mẫu máu của bà Nguyễn Thị Hoa (mẹ đẻ của L) và cá thể nam giới có kiểu gen được phát hiện trên con dao dài 41cm tại Bản Kết luận giám định số 140/GĐSH/2019 ngày 16/11/2019 có quan hệ huyết thống trực hệ.

Ngày 23/9/2022, Hoàng Phú L bị bắt theo Quyết định truy nã của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng.

Quá trình điều tra, Hoàng Phú L khai nhận: Ngày 24/10/2019, L đã thực hiện hành vi sử dụng con dao phay, một tay giữ ghì đầu của chị Hoàng Thị H (vợ cũ) xuống bệ bếp, tay còn lại vung dao chém hai nhát xuống vùng gáy của chị H, nhát đầu làm đứt tóc, nhát thứ hai trúng gáy. Sau đó, L lấy con dao khác dài 21cm tự cứa vào cổ của mình như nội dung trên. L khai không mong muốn giết chết chị H. Trong thời gian bỏ trốn, L đi làm thuê ở khu vực cửa khẩu Lý Vạn thuộc tỉnh Cao Bằng, không ở nơi nào cố định và không có hành vi vi phạm pháp luật nào khác.

Lời khai nhận tội của bị can phù hợp lời khai người bị hại; phù hợp lời khai của những người làm chứng; phù hợp với kết quả giám định pháp y về thương tích, xác định về đặc điểm, dấu vết, cơ chế hình thành vết thương, hậu quả của các thương tích để lại trên thân thể của bị hại; phù hợp với vật chứng - con dao (dạng dao phay) và phù hợp với nhiều tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Về dân sự: chị Hoàng Thị H yêu cầu bồi tH 500.000.000 đồng chi phí điều trị và tổn thất về tinh thần. Gia đình Hoàng Phú L đã bồi tH 20.000.000 đồng.

Về vật chứng: Chuyển Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng, gồm: 02 dao bằng kim loại đều có đặc điểm một lưỡi sắc, đầu bằng dài 41cm và 24cm; 01 áo phông dài tay màu trắng; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus.

Tại bản Cáo trạng số 07/CT-VKS-P2, ngày 22 tháng 12 năm 2022, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Hoàng Phú L về tội Giết người (chưa đạt) theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Phú L khai nhận bị cáo và bị hại có quan hệ là vợ chồng nhưng đã tiến hành thủ tục ly hôn vào tháng 8 năm 2018. Mặc dù đã ly hôn nhưng bị cáo vẫn mong muốn hai vợ chồng về đoàn tụ. Khoảng 6h30’ ngày 24/10/2019, sau khi ăn sáng, bị cáo sang nơi ở của chị H. Tại đây, giữa bị cáo và chị H xảy ra xích mích, do có uống rượu, bực tức không làm chủ được hành vi của mình nên bị cáo đã dùng dao thái thịt lấy ngay tại nhà của chị H, chém vào gáy của chị H khiến chị H bị thương. Tuy nhiên bị cáo chỉ chém một nhát, còn nhát đầu tiên bị cáo khảo nên chém bằng sống dao, do đó bị cáo chỉ phạm tội cố ý gây thương tích. Do chị H cầu cứu, bị cáo đã đưa chị H đi cấp cứu. Sau đó, do lo sợ bị bắt nên bị cáo bỏ trốn lên Cao Bằng vùng giáp biên giới Trung Quốc và tH xuyên sang Trung Quốc bằng đường tiểu ngạch. Đến ngày 23/9/2022 thì bị Công an Trung Quốc bắt giữ và trả về Việt Nam qua cửa khẩu Cao Bằng. Khi lực lượng công an tiến hành làm việc do biết không thể trốn tránh nên bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình mong được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo không đồng ý với mức bồi tH bị hại nêu.

Tại phiên toà, bị hại – chị H xác nhận nội dung bản cáo trạng là đúng với sự việc xảy ra. Chị H và bị cáo đã ly hôn từ năm 2018. Sau khi ly hôn, bị cáo muốn hai bên quay lại nhưng chị H không đồng ý. Sáng ngày 24/10/2019, bị cáo đến nơi ở của chị H (là nhà bố mẹ đẻ của chị H). Hai bên có xích mích thì bị cáo đã dùng dao tại nơi ở của chị H gây thương tích tại gáy của chị H. Trong lúc chém vào gáy chị H thì bị cáo có nói “tao chém chết mẹ mày”; sau khi chị H bị ngã, máu ở vết thương chảy ra thì bị cáo có nói: “bây giờ cả hai phải chết”, rồi cầm dao tự cứa vào cổ bị cáo. Sau đó do chị H cầu xin nên bị cáo không tiếp tục thực hiện và đưa chị H đi cấp cứu. Chị H đề nghị xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật. Về dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi tH cho chị H 20.000.000 đồng, nay chị H yêu cầu bị cáo tiếp tục phải bồi tH 300.000.000 đồng, trong đó 70.000.000 đồng là bồi tH về tổn thất tinh thần. Chị H xác nhận tại thời điểm điều trị thương tích thì thu nhập hàng tháng của chị H là 8.000.000 đồng/tháng. Mẹ chị H là người chăm sóc chị H trong thời gian điều trị. Mẹ của chị H là lao động tự do. Về hình phạt đối với bị cáo, đề nghị xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày quan điểm luận tội: Giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo Hoàng Phú L về tội Giết người theo điểm n (có tính chất côn đồ) khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự (phạm tội chưa đạt). Tại phiên toà bị cáo cho rằng hành vi của bị cáo chỉ phạm tội cố ý gây thương tích, không thành khẩn khai báo và xác nhận không tác động đến gia đình để bồi tH cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng. Số tiền này là do gia đình bị cáo tự bồi tH nên Viện Kiểm sát rút đề nghị áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm a khoản 1 Điều 51, Điều 15, Điều 57 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123, điểm a khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Phú L mức án từ 13 năm tù đến 14 năm tù. Về dân sự: Buộc bị cáo phải bồi tH cho bị hại theo quy định của pháp luật, trong đó bồi tH tổn thất tinh thần bằng 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Tại phiên toà, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến về tội danh mà Viện Kiểm sát đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ là: Bị cáo đầu thú, ông Ngoại bị cáo là người có công với cách mạng, bị cáo thành khẩn khai báo, đã tác động đến gia đình để bồi tH cho người bị hại số tiền 20.000.000 đồng và cho bị cáo hưởng mức án thấp hơn đề xuất của Viện Kiểm sát và mức bồi tH phù hợp với thương tích của bị hại.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ 02 con dao đã thu giữ; 01 áo phông dài tay màu trắng; tuyên trả bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus, nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi dùng dao chém hai nhát vào gáy của chị H gây nên vết thương đúng như Bản kết luận giám định pháp y về thương tích đã mô tả. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp một phần với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp một phần với lời khai người bị hại, phù hợp với thương tích của bị hại, phù hợp với Bản ảnh hiện trường, lời khai người làm chứng về thời gian, địa điểm phạm tội cũng như các tình tiết khác của vụ án. Lời khai đó còn được chứng minh bằng vật chứng thu giữ; bản Kết luận giám định pháy y về thương tích số 556/2019/TgT ngày 03 tháng 12 năm 2019 của Trung tâm pháp y Hải Phòng, kết luận: Nạn nhân bị vết thương vùng chẩm cổ gây đứt cơ cạnh sống, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do thương tích gây nên là 13% (tại thời điểm giám định). Lời khai của bị cáo còn được chứng minh bằng Kết luận giám định số 140/GĐSH/2019 ngày 16/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng, kết luận về vết máu trên dao bằng kim loại tối màu là máu lẫn của chị Hoàng Thị H và máu người nam giới; trên áo phông dài tay màu trắng và mẫu dấu vết màu nâu đỏ thu tại hiện trường là máu của chị H; phù hợp với Kết luận giám định số 140A/GĐSH/2020 ngày 29/02/2020 của Phòng kỹ thuật Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Bà Nguyễn Thị Hoa (mẹ đẻ của bị cáo) và cá thể nam giới có kiểu gen được phát hiện trên con dao bằng kim loại tối màu có quan hệ huyết thống trực hệ mẹ - con. Tại Công văn số 22/2020/CV ngày 26/02/2020 của Trung tâm pháp y Hải Phòng cho biết: Nạn nhân H bị vết thương vùng chẩm cổ nằm ngang chỉ gây đứt bó cơ cạnh sống vùng cổ sau, không tổn thương thân đốt sống, tuỷ sống, động mạnh lớn, nên không gây nguy hiểm đến tính mạng của nạn nhân. Với vị trí thương tích trên và hung khí có đặc điểm mà cơ quan cảnh sát điều tra cung cấp nếu tác động với một lực mạnh hơn thì có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của nạn nhân H. Căn cứ lời khai của chị H thì trong lúc chém chị H bị cáo có nói “tao chém chết mẹ mày”, “bây giờ cả hai phải chết”; bị cáo đã dùng dao chém vào vị trí hiểm yếu trên cơ thể người, có nguy cơ tử vong cao. Do vậy, bị cáo cho rằng hành vi của bị cáo dùng dao chém vào gáy bị hại chỉ phạm tội cố ý gây thương tích là không có căn và có đủ cơ sở kết luận: Chỉ vì lý do chị H không muốn quay về đoàn tụ với bị cáo, không làm chủ được bản thân, bị cáo đã có hành vi dùng dao chém 02 nhát vào sau gáy của chị H (là vợ cũ của bị cáo) là vị trí hiểm yếu trên cơ thể người, có nguy cơ tử vong cao. Hậu quả: Chị H bị vết thương vùng chẩm cổ gây đứt cơ cạnh sống, gây tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị H là 13%, việc chị H không chết là ngoài ý muốn của bị cáo. Hành vi của bị cáo Hoàng Phú L đã phạm tội Giết người nhưng chưa đạt (Điều 15 của Bộ luật Hình sự). Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 (có tính chất côn đồ), khoản 3 Điều 57 của Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo chưa thực sự thành khẩn khai báo, bị cáo cũng xác nhận không tác động đến gia đình để bồi tH 20.000.000 đồng cho bị hại nên không áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo đối với bị cáo. Việc gia đình bị cáo đã bồi tH cho bị hại 20.000.000 đồng, ông Ngoại của bị cáo là người có công với cách mạng là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã đưa bị hại đi cấp cứu là làm giảm bớt tác hại của tội phạm nên là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại a khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt:

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy rằng, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo phạm tội Giết người quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến sức khoẻ, tính mạng của người khác đặc biệt bị hại lại là người đã từng là vợ của bị cáo, là mẹ của các con của bị cáo. Hành vi của bị cáo không chỉ vi phạm pháp luật mà còn vi phạm đạo đức, đi ngược lại truyền thống trọng đạo của dân tộc; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội; sau khi phạm tội, bị cáo còn bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra nên cần phải được lên án và xử lý nghiêm, cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sẽ xem tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo.

Về trách nhiệm bồi tH thiệt hại: Tại phiên toà chị H yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi tH số tiền là 300.000.000 đồng. Xét thấy: Chị H điều trị tại Bệnh viện trung ương Quân đội 108 từ ngày 24/10/2019, ra viện ngày 30/10/2019 nên thời gian điều trị tại bệnh viện là 07 ngày, cộng với thời gian điều trị ngoại trú, tổng cộng là 21 ngày. Các khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa thương tích của chị H là:

Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa (có hoá đơn): 13.871.857 đồng (1);

Chi phí đi, về bệnh viện: 5.000.000 đồng cho bị hại và người chăm sóc bị hại trong thời gian điều trị tại bệnh viện (2).

Chi phí bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ: 4.680.000 đồng : 26 ngày = 180.000 đồng/ngày x 21 ngày = 3.780.000 đồng (3) (Nghị định số 38/2022/NĐ-CP ngày 12/6/2022 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động).

Thu nhập bị mất do phải nghỉ việc để điều trị trong 21 ngày kể cả điều trị ngoại trú (Căn cứ vào bảng chấm công của Công ty nơi bị hại làm việc): 8.000.000 đồng : 26 ngày = 307.692 đồng x 21 ngày = 6.461.538 đồng (4).

Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc bị hại trong thời gian điều trị tại bệnh viện: 250.000 đồng/ngày x 7 ngày = 1.750.000 đồng (5).

Khoản tiền để bù đắp tổn thất tinh thần: 1.490.000đồng x 13 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định = 19.370.000 đồng (6).

Tổng cộng: 50.233.395 đồng. Gia đình bị cáo đã bồi tH cho bị hại 20.000.000 đồng, bị cáo tiếp tục phải bồi tH cho bị hại số tiền là: 30.233.395 đồng (làm tròn 30.233.000 đồng) - các Điều 584, 585, 590 của Bộ luật Dân sự.

(Nghị quyết số 02/2022/NQHĐTP ngày 06/9/2022 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi tH thiệt hại ngoài hợp đồng)

Về vật chứng: 01 dao bằng kim loại tối màu, dài tổng thể 41cm, cán dao dài 11cm, bản rộng nhất thân dao là 6cm, dao có một lưỡi sắc, đầu bằng; 01 dao dài tổng thể 24cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 10cm, thân dao bằng kim loại tối màu, bản rộng nhất thân dao là 04cm, có 01 lưỡi sắc, đầu bằng, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu huỷ. 01 điện thoại màu trắng nhãn hiệu Iphone đã qua sử dụng loại Iphone 7 Plus số IMEI: 355838080701810 không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành bản án – Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/12/2022).

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.511.650 đồng (làm tròn 1.511.000 đồng )án phí dân sự bồi tH, cộng là: 1.711.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57, Điều 38 của Bộ luật Hình sự,

Xử phạt:

1. Bị cáo: Hoàng Phú L 13 (Mười ba) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giữ - ngày 23/9/2022.

Căn cứ vào các Điều 584, 585, 590 của Bộ luật Dân sự;

2. Về dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Phú L có nghĩa vụ bồi tH cho bị hại – chị Hoàng Thị H tổng số tiền là 50.233.000 đồng; gia đình bị cáo đã bồi tH 20.000.000 đồng; bị cáo còn phải bồi tH tiếp số tiền là 30.233.000 đồng (Ba mươi triệu hai trăm ba mươi ba nghìn đồng).

Kể từ ngày chị Hoàng Thị H có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng bị cáo Hoàng Phú L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

3.1. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 dao bằng kim loại tối màu, dài tổng thể 41cm, cán dao dài 11cm, bản rộng nhất thân dao là 6cm, dao có một lưỡi sắc, đầu bằng; 01 dao dài tổng thể 24cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 10cm, thân dao bằng kim loại tối màu, bản rộng nhất thân dao là 04cm, có 01 lưỡi sắc, đầu bằng, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu huỷ (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/12/2022).

3.2. Trả lại 01 điện thoại màu trắng nhãn hiệu Iphone đã qua sử dụng loại Iphone 7 Plus số IMEI: 355838080701810 cho bị cáo Hoàng Phú L, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/12/2022).

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23, điểm b khoản 1 Điều 24 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban tH vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

4. Về án phí: Bị cáo Hoàng Phú L phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.511.000 đồng tiền án phí dân sự bồi tH, cộng: 1.711.000 đồng (Một triệu bảy trăm mười một nghìn đồng).

Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Hoàng Phú L và bị hại – chị Hoàng Thị H đều có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a,9 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ