- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Tấn S và đồng phạm phạm tội Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép - phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập c…"
- Tòa quyết gì? Về tội dAh: Tuyên bố các bị cáo Hồ Tấn S, Nguyễn Văn H1 và Đào Văn H2 phạm tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép”.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật hình sự phạt bổ sung; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:12/2023/HS-ST Ngày: 20/4/2023 |
NHÂN DAH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thiện
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sỹ Quân, ông Bùi Văn Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm – Thư ký TAD tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dântỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Nữ GiAg Ah - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 4 N 2023 tại Hội trường xét xử - Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 01 N 2023 T3o Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-HS ngày 10/3/2023 và thông báo mở lại phiên tòa số 13/2023/TB-TA, ngày 10/4/2023 đối với các bị cáo:
1. Hồ Tấn S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 23 tháng 3 N 1977, tại thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: số 5.10 Lô G chung cư Bình Trưng, phường Bình Trưng Đông, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ văn hóa: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Hồ T; Sinh N 1940; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con bà: Lê Thị H3 (Đã chết); Ah chị em ruột: Có 04 người, bị cA là con thứ hai trong gia đình; Vợ: D Thị Hoài N; Sinh N 1988 (Đã ly hôn); Con: 01 người con (sinh N 2007) Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 30/9/2022, bị Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xử phạt 05 N tù về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 348 Bộ luật Hình sự (Bản án số 434/2022/HS-PT).
Bị khởi tố bị cA ngày 07/9/2022. Hiện Hồ Tấn S đAg được điều chuyển về Trại tạm giam Công A tỉnh Hà Tĩnh T3o Quyết định điều chuyển người bị tạm giam số 52 ngày 21/10/2022 của Công A tỉnh Kom Tum. Có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Văn H1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 14 tháng 02 N 1989, tại tỉnh Nam Định; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Xóm 5, xã Nghĩa Tân, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Con ông: Nguyễn Văn H4; Sinh N 1964; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con bà: Vũ Thị T3; Sinh N 1969; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Ah chị em ruột: Có 02 người, bị cA là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị A; Sinh N 1997 (Đã ly hôn) hiện trú tại xóm 5, xã Nghĩa Tân, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định; Con: 02 người con (lớn sinh N 2018, nhỏ sinh N 2019). Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 04/8/2022, bị Tòa án nhân dân tỉnh Kom Tum xử phạt 02 N tù về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự (Bản án số 29/2022/HSST).
Bị khởi tố bị cA ngày 07/9/2022. Hiện Nguyễn Văn H1 đAg được điều chuyển về Trại tạm giam Công A tỉnh Hà Tĩnh T3o Quyết định điều chuyển người bị tạm giam số 52 ngày 21/10/2022 của Công A tỉnh Kom Tum. Có mặt tại phiên tòa.
3. Đào Văn H2; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 18 tháng 7 N 1999, tại tỉnh Nam Định; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Xóm 6, xã Phúc Thắng, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Con ông: Đào Văn Hoàng; Sinh N 1975; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con bà: Nguyễn Thị Huế; Sinh N 1978; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Ah chị em ruột: Có 06 người, bị cA là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị khởi tố bị cA ngày 27/9/2022 và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khởi nơi cư trú tại xã Phúc Thắng, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
* Những người làm chứng
- Nguyễn Bá Th, sinh N 1994,địa chỉ xóm 5, xã Nghĩa Tân, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Nguyễn Văn C, sinh N 1984, địa chỉ: xóm 5, xã Trực Thái, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
T3o các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thông qua mạng xã hội, Hồ Tấn S, sinh N 1977, trú tại 5/10 Chung cư Bình Trưng, lô G, phường Bình Trưng Đông, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh quen biết với một người đàn ông tên Hoàng, Hoàng sử dụng tài khoản zalo “Hoàng Hà Nội” (S không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của Hoàng). Ngày 16/8/2021, người đàn ông tên Hoàng sử dụng tài khoản zalo “Hoàng Hà Nội” liên lạc với Hồ Tấn S qua tài khoản zalo “Son Ho” thuê S dùng hai xe ô tô để chở ba người Trung Quốc không có hộ chiếu, giấy tờ xuất, nhập cảnh hợp pháp đi từ thành phố Hồ Chí Minh ra Bắc Ninh với giá 57.000.000 đồng, chuyển tạm ứng trước cho S 30.000.000 đồng, số tiền còn lại khi nào giao người thành công sẽ chuyển đủ cho S. Hồ Tấn S đã sử dụng số 0768050733 gọi điện thuê Nguyễn Văn H1, sinh N 1989, trú tại xã Nghĩa Tân, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định sử dụng hai xe ô tô đi vào thành phố Hồ Chí Minh chở ba người Trung Quốc không có hộ chiếu, giấy tờ xuất, nhập cảnh hợp pháp với giá 55.000.000 đồng, số tiền chênh lệch mà S sẽ được hưởng lợi là 2.000.000 đồng. Hồ Tấn S thống nhất với Nguyễn Văn H1 là xe ô tô chở một người Trung Quốc với giá 25.000.000 đồng và xe ô tô chở hai người Trung Quốc với giá 30.000.000 đồng, S sẽ chuyển tạm ứng trước cho H1 30.000.000 đồng, số tiền còn lại khi nào giao người thành công sẽ chuyển đủ cho H1. Người đàn ông tên Hoàng hướng dẫn Hồ S Tấn khi chở người Trung Quốc không có hộ chiếu, giấy tờ xuất, nhập cảnh hợp pháp thì tải ứng dụng dịch tiếng Trung - Việt để giao tiếp với người Trung Quốc, trên đường đi chỉ được mua cơm lên xe ăn, đi vệ sinh tại nơi hoAg vắng, khi gần đến các chốt kiểm tra phòng, chống dịch thì ra hiệu cho người Trung Quốc trốn trong cốp xe ô tô để tránh bị lực lượng chức năng phát hiện. Hồ Tấn S hướng dẫn cho Nguyễn Văn H1 những nội dung mà người tên Hoàng đã hướng dẫn S để H1 chở người Trung Quốc đi thành công, tránh bị lực lượng chức năng phát hiện.
Sau khi được Hồ Tấn S thuê chở 03 người Trung Quốc không có hộ chiếu, giấy tờ xuất, nhập cảnh hợp pháp, Nguyễn Văn H1 gọi điện thoại đến số 0395.449.828 thuê Đào Văn H2 (sinh N 1999) trú tại xã Phúc Thắng, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định) lái xe đi vào thành phố Hồ Chí Minh để chở một người Trung Quốc không có hộ chiếu, giấy tờ xuất, nhập cảnh hợp pháp ra Bắc Ninh với tiền công 5.000.000 đồng, còn chi phí tiền xăng, tiền ăn, tiền thuê nhà nghỉ…đi dọc đường H1 sẽ đưa tiền cho H2. Nguyễn Văn H1 hướng dẫn cho Đào Văn H2 những nội dung mà S đã hướng dẫn cho H1 để H2 chở người Trung Quốc đi thành công không bị lực lượng chức năng phát hiện. Đồng thời, Nguyễn Văn H1 gọi điện thoại thuê Phạm Hùng C (sinh N 1982) trú tại xã Phú Lạc, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ đi xe ô tô vào thành phố Hồ Chí Minh đón hai người Trung Quốc với giá 30.000.000 đồng, C đồng ý và nói với H1 là C sẽ giao cho Mai Văn D (sinh N 1999, trú tại Phúc Thắng, Nghĩa Hưng, Nam Định) đi chở người Trung Quốc.
Sáng ngày 17/8/2021, Nguyễn Văn H1 nhờ em trai là Nguyễn Bá Th (sinh N 1994) trú tại xã Nghĩa Tân, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định) đi thuê xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, biển kiểm soát 18A-219.44 của Nguyễn Văn C (sinh N 1984) trú tại xã Trực Thái, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định nhưng H1 không nói cho Th và C biết mục đích H1 thuê xe ô tô để chở người Trung Quốc bất hợp pháp. Sau đó, Nguyễn Văn H1 giao xe ô tô này cho Đào Văn H2, đưa cho H2 số tiền 5.000.000 đồng để H2 làm chi phí đi đường, còn tiền công H1 sẽ trả cho H2 sau khi giao người thành công. Đào Văn H2 đồng ý và điều kH1 xe ô tô xuất phát từ tỉnh Nam Định đi vào thành phố Hồ Chí Minh để chở một người Trung Quốc như đã thoả thuận với H1. Ngày 18/8/2021, khi đi đến địa phận tỉnh Bình Thuận, Đào Văn H2 gọi điện thoại nói Nguyễn Văn H1 cho thêm một người vào lái xe cùng với H2. Lúc này, em trai của Nguyễn Văn H1 là Nguyễn Bá Th đAg ở nhà, do Th cũng có bằng lái xe ô tô nên H1 đã nhờ Th đi phụ lái xe giúp cho H2 nhưng H1 không nói cho Th biết là đi chở người Trung Quốc bất hợp pháp, Th cũng không được hưởng lợi gì từ việc này. Tối ngày 18/8/2021, Nguyễn Văn H1 đã thuê xe ô tô chở Nguyễn Bá Th đi vào thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế để chờ ĐàoVăn H2, phụ lái xe cho H2. Sáng ngày 20/8/2021, Nguyễn Bá Th ở lại Huế chờ Đào Văn H2 còn Nguyễn Văn H1 điều kH1 xe ô tô quay về nhà ở Nam Định, H1 có đưa cho Th số tiền 1.500.000 đồng để Th chi tiêu cá nhân.
Trưa ngày 19/8/2021, Đào Văn H2 điều kH1 xe ô tô biển kiểm soát 18A-219.44 vào đến địa phận phường Hố Nai, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, do không có giấy tờ phòng, chống dịch Covid-19 T3o quy định nên lực lượng chức năng không cho Đào Văn H2 đi vào thành phố Hồ Chí Minh. Đào Văn H2 gọi điện thoại cho Nguyễn Văn H1 thông báo không đi vào được thành phố Hồ Chí Minh để đón người Trung Quốc. Sau khi trao đổi, thống nhất với Hồ Tấn S, Nguyễn Văn H1 hướng dẫn Đào Văn H2 điều kH1 xe ô tô đi đến huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai chờ đón người Trung Quốc. Đào Văn H2 lái xe ô tô đi đến huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai rồi dừng xe, gửi hình ảnh xe ô tô cùng vị trí hiện tại của mình qua tài khoản Zalo cho Nguyễn Văn H1. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, có một người đàn ông Trung Quốc đi trên một chiếc xe ô tô 05 chỗ, màu trắng (không rõ biển kiểm soát), xuống xe đi đến vị trí xe ô tô của Đào Văn H2 đAg đậu bên đường. Đào Văn H2 biết đây là người Trung Quốc không có giấy tờ xuất, nhập cảnh hợp pháp mà Nguyễn Văn H1 thuê H2 chở nên H2 đã đón người đàn ông Trung Quốc lên xe ô tô và xuất phát từ huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đi T3o tuyến Quốc lộ 1A ra tỉnh Bắc Ninh.
Cũng trong thời giA này, người đàn ông tên Hoàng sử dụng tài khoản ngân hàng MBbAk số 8856666566666 chuyển đến tài khoản ngân hàng TechcombAk số 19034455085015 của Hồ Tấn S tổng số tiền 45.000.000 đồng, trong đó có 30.000.000 đồng là Hoàng T toán tiền tạm ứng chở người Trung Quốc bất hợp pháp cho S, còn số tiền 15.000.000 đồng Hoàng nhờ S rút tiền để đưa cho người quen của Hoàng ở thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi người tên Hoàng chuyển tiền T toán tạm ứng vào tài khoản, Hồ Tấn S đã sử dụng tài khoản ngân hàng này chuyển đến tài khoản ngân hàng MBbAk số 9704229218713936 (liên kết ViettelPay) của Nguyễn Văn H1 số tiền 30.000.000 đồng để T toán tiền tạm ứng chở người Trung Quốc bất hợp pháp như S đã thoả thuận với H1.
Đến khoảng 12 giờ ngày 20/8/2021, khi Đào Văn H2 điều kH1 xe ô tô biển kiểm soát 18A-219.44 trên xe chở một người đàn ông Trung Quốc không có giấy tờ xuất, nhập cảnh hợp pháp đi đến thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, Đào Văn H2 gọi điện thoại và đón Nguyễn Bá Th để lái xe cùng với H2. Khi xe ô tô đi qua thành phố Huế thì Nguyễn Bá Th điều kH1 xe ô tô lái thay cho Đào Văn H2. Đến 20 giờ ngày 20/8/2021, khi xe ô tô biển kiểm soát 18A-219.44 do Nguyễn Bá Th và Đào Văn H2 điều kH1 đi đến địa phận xã Kỳ Nam, thị xã Kỳ Ah, tỉnh Hà Tĩnh thì bị tổ công tác phòng, chống dịch bệnh Covid 19 yêu cầu dừng xe, kiểm tra và phát hiện có một người đàn ông Trung Quốc trốn trong cốp xe ô tô. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản và trình báo sự việc đến Công A thị xã Kỳ Ah, tỉnh Hà Tĩnh.
Quá trình điều tra xác định, người đàn ông Trung Quốc trốn trong cốp xe ô tô biển kiểm soát 18A-219.44 là Chen You S1 (sinh ngày 15/8/1989) trú tại thành phố Hạ Môn, tỉnh Phúc Kiến, nước Trung Quốc. Trước đó, thông qua mạng xã hội, Chen You S1 tìm kiếm việc làm và thống nhất với người trên mạng xã hội ở Trung Quốc đi làm đầu bếp ở nước ngoài với mức thu nhập 15.000 NDT/tháng. Ngày 11/8/2021, một người đàn ông Trung Quốc đi xe ô tô đến đón Chen You S1 từ nhà riêng đến tỉnh Quảng Tây, nước Trung Quốc, rồi sau đó đi tiếp bằng nhiều phương tiện khác nhau. Đến ngày 15/8/2021, Chen You S1 quA sát ra bên ngoài xe ô tô và biết mình đã vào lãnh thổ nước Việt Nam do nhìn thấy các biển hiệu chỉ dẫn trên đường đi là chữ Việt Nam. Do phải nhiều lần đổi xe ô tô và trốn trong cốp xe ô tô nên Chen You S1 không biết mình đAg ở đâu trên nước Việt Nam. Vào ngày 19/8/2021, Chen You S1 được Đào Văn H2 đón lên xe ô tô biển kiểm soát 18A-219.44 tại huyện Trảng Bòm, tỉnh Đồng Nai chở đi ra Bắc Ninh. Đến 20 giờ ngày 20/8/2021, thì bị lực lượng chức năng phát hiện tại xã Kỳ Nam, thị xã Kỳ Ah, tỉnh Hà Tĩnh
Ngày 09/9/2021, Chen You S1 bị trục xuất về nước Trung Quốc qua cửa khẩu Quốc tế Hữu Nghị, thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng S.
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS-P1 ngày 17/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố các bị cáo Hồ Tấn S, Nguyễn Văn H1 và Đào Văn H2 về tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép” quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát viên giữ nguyên quA điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Hồ Tấn S, Nguyễn Văn H1 và Đào Văn H2 phạm tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép”
Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51, 56, 58, 104 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hồ Tấn S từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù. Tổng hợp hình phạt trên với hình phạt 05 N tù về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 348 BLHS (Bản án số 434/2022/HS-PT của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng) buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án từ 07 N 06 tháng tù đến 08 N tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/02/2022.
Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 56, 58, 104 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù. Tổng hợp hình phạt trên với hình phạt 02 N tù về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” quy định tại khoản 1 Điều 348 BLHS (Bản án số 29/2022/HS-ST của Tòa án nhân dân tỉnh Kom Tum) buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án từ 04 N đến 04 N 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/4/2022.
Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51, 58, 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đào Văn H2 từ 18 tháng đến 24 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời giA thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng.
- Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 348, Điều 32, khoản 2 Điều 35: xử phạt bổ sung bị cáo Hồ Tấn S số tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng; xử phạt bổ sung bị cáo Đào Văn H2 từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng; Do gia đình bị cáo Nguyễn Văn H1 thuộc hộ cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối bị cáo H1.
Về phần bồi thường dân sự: Không.
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 25.000.000đ của Nguyễn Văn H1, 5.000.000đ của Đào Văn H2.
Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, các bị cáo không có ý kiến trAh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Cơ quA điều tra Công A tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, các bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quA tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt những người làm chứng, những người này đã có lời khai tại cơ quA điều tra, việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử, căn cứ quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự Tòa án xét xử vắng mặt.
Nhận định của Hội đồng xét xử về tính chất hành vi phạm tội, tội dAh; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các điều luật áp dụng đối với các bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản làm việc, biên bản khám phương tiện; thời giA, địa điểm, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Vì vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Vì mục đích vụ lợi nên Hồ Tấn S đã thống nhất cùng với Nguyễn Văn H1 tổ chức cho Chen You S1 (sinh ngày 15/8/1989) trú tại thành phố Hạ Môn, tỉnh Phúc Kiến, nước Trung Quốc, là người không có hộ chiếu, không có giấy tờ xuất, nhập cảnh hợp pháp vào Việt Nam ở lại trái phép trên lãnh thổ nước Việt Nam. Để tổ chức cho Chen You S1 ở lại trái phép trên lãnh thổ Việt Nam, trong khoảng thời giA từ ngày 19/8/2021 đến ngày 20/8/2021, Nguyễn Văn H1 đã thuê Đào Văn H2 điều kH1 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, biển kiểm soát 18A-219.44 chở Chen You S1 đi từ huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai ra tỉnh Bắc Ninh. Đến 20 giờ ngày 20/8/2021, khi xe ô tô của Đào Văn H2 chở Chen You S1 đi đến địa phận xã Kỳ Nam, thị xã Kỳ Ah, tỉnh Hà Tĩnh thì tổ công tác phòng chống dịch bệnh Covid19 Công A tỉnh Hà Tĩnh phát hiện.
Thông qua việc tổ chức cho Chen You S1 ở lại trái phép trên lãnh thổ nước Việt Nam, T3o thỏa thuận Hồ Tấn S sẽ được hưởng lợi 2.000.000 đồng, Nguyễn Văn H1 sẽ được hưởng lợi 7.000.000 đồng và Đào Văn H2 sẽ được hưởng lợi 5.000.000 đồng, nhưng S, H1 và H2 chưa được nhận số tiền này do hành vi phạm tội bị phát hiện.
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nguy hiểm cho xã hội nhưng vì mục đích vụ lợi các bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú tại Việt Nam khi chưa được phép của cơ quA Nhà nước có thẩm quyền, làm gia tăng nguy cơ xảy ra các tội phạm do người nước ngoài cư trú trái phép ở Việt Nam thực hiện. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Hồ Tấn S, Nguyễn Văn H1, Đào Văn H2 phạm tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép” T3o khoản 1 Điều 348 Bộ luật hình sự như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố là đúng người, đúng tội, không oA sai.
Các bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng các tình tiết gỉảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1; bị cáo Nguyễn Văn H1 là hộ cận nghèo nên được thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần xem xét cho các bị cáo. Vụ án có tính chất đồng phạm giảm đơn, các bị cáo Hồ Tấn S, Nguyễn Văn H1 có vai trò cao hơn, đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Kom Tum xử phạt tù về tội “ Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”, nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội, đo đó cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời giA để răn đe giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng phòng ngừa chung. Đối với bị cáo Đào Văn H2 phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng căn cứ quy định tại Điều 65 BLHS, Nghị quyết số 02/2028/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2028 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15/4/2022 của hội đồng Thẩm phán TAD tối cao cho bị cáo H2 hưởng án treo là phù hợp, thể hiện khoA hồng của pháp luật.
Áp dụng khoản 2, 3 Điều 35, khoản 4 Điều 349 Bộ luật hình sự phạt bổ sung bị cáo S 15.000.000đ, bị cáo H2 10.000.000đ. Đối với bị cáo H1 thuộc hộ cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá đầy đủ tính chất, H4 quả của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo cũng như các vấn đề khác là tương đối phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu IPHONE X, màu đen, IMEI: 359412085483281, đã qua sử dụng, trong điện thoại chứa thuê bao số 0395.449.828 của Đào Văn H2.
Đối với: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu IPHONE 6S, màu trắng hồng, IMEI 355417079786213, đã qua sử dụng, trong điện thoại chứa thuê bao di động số 0878268686 của Nguyễn Văn H1; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu IPHONE XS, màu trắng, IMEI 357237091976446, đã qua sử dụng, trong điện thoại chứa thuê bao di động số 0971048486 của Nguyễn Văn H1; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu NOKIA, màu đen, IMEI 1: 352428904292478, IMEI 2: 352428906292476 đã qua sử dụng, trong điện thoại chứa một thuê bao số seri thuê bao 8401201113167177 của Đào Văn H2. Các bị cáo H1, H2 không sử dụng vào việc phạm tội nên không tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước mà tiếp tục tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án đối với bị cáo Nguyễn Văn H1, Đào Văn H2.
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 25.000.000đ của Nguyễn Văn H1, 5.000.000đ của Đào Văn H2 do các bị cáo phạm tội mà có .
Những hành vi, đối tượng liên quA trong vụ án:
Trong vụ án này, Ah Chen You S1 (sinh ngày 15/8/1989) trú tại thành phố Hạ Môn, tỉnh Phúc Kiến, nước Trung Quốc đã có hành vi “Vi phạm các quy định về xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú, đi lại” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 17, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP, ngày 12/11/2013 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực A ninh, trật tự, A toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Ngày 08/9/2021, Công A tỉnh Hà Tĩnh đã ra Quyết định số 1637/QĐ-TX về việc xử phạt trục xuất T3o thủ tục hành chính đối với Ah Chen You S1.
Đối với Nguyễn Bá Th là người được Nguyễn Văn H1 nhờ đi thuê xe và ký hợp đồng thuê xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, biển kiểm soát 18A-219.44 để H1 giao xe ô tô cho Đào Văn H2 đi vào thành phố Hồ Chí Minh. Nguyễn Bá Th không biết mục đích của Nguyễn Văn H1 thuê xe ô tô là để chở người Trung Quốc không có giấy tờ xuất, nhập cảnh hợp pháp. Sau đó, vào ngày 20/8/2021 Nguyễn Bá Th được Nguyễn Văn H1 nhờ đi vào tỉnh Thừa Thiên Huế để phụ lái cho Đào Văn H2 chở Ah Chen You S1. Nguyễn Văn H1 và Đào Văn H2 không trao đổi cho Nguyễn Bá Th biết Ah Chen You S1 (Quốc tịch Trung Quốc) không có giấy tờ xuất nhập cảnh hợp pháp, Nguyễn Bá Th không có mục đích vụ lợi và cũng không được hưởng lợi gì từ việc này. Do đó, không có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Bá Th.
Đối với Nguyễn Văn C đã cho Nguyễn Văn H1 thuê xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, biển kiểm soát 18A-219.44. Khi cho H1 thuê xe Nguyễn Văn C không biết được mục đích Nguyễn Văn H1 thuê xe ô tô là để chở người nước ngoài bất hợp pháp. Do đó, không có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn C.
Đối với Phạm Hùng C (sinh N 1982) trú tại khu Bắc Tiến 2, xã Phú Lạc, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ và Mai Văn D (sinh N 1999) trú tại xã Phúc Thắng, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định: Quá trình điều tra vụ án, T3o lời khai nhận của Hồ Tấn S Nguyễn Văn H1 và Đào Văn H2, vào ngày 20/8/2021, Nguyễn Văn H1 còn thuê Phạm Hùng C và Mai Văn D chở hai người Trung Quốc khác không có hộ chiếu, không có giấy tờ hợp pháp đi từ thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội. Tuy nhiên, quá trình điều tra vụ án Phạm Hùng C, Mai Văn D đều không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì chính quyền địa phương và gia đình không biết. Do đó, Cơ quA A ninh điều tra Công A tỉnh Hà Tĩnh đã tách hành vi của Phạm Hùng C và Mai Văn D để điều tra, làm rõ, xem xét xử lý khi đủ căn cứ.
Đối với đối tượng có thông tin tên “Hoàng” người Hà Nội: Quá trình điều tra vụ án, Hồ Tấn S khai nhận người đàn ông tên Hoàng Hà Nội là người đã thuê S chở 03 người Trung Quốc không có giấy tờ xuất nhập cảnh hợp pháp vào ngày 20/8/2021. Tuy nhiên, Hồ Tấn S không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này để cung cấp cho Cơ quA A ninh điều tra Công A tỉnh Hà Tĩnh. Đối với tài khoản ngân hàng MBbAk số 8856666566666 đã chuyển đến tài khoản ngân hàng TechcombAk số 19034455085015 của Hồ Tấn S số tiền 45.000.000 đồng. Kết quả điều tra xác định chủ tài khoản ngân hàng số MBbAk số 8856666566666 là Đặng T Xuân (sinh ngày 17/7/1983) trú tại khu Tân Lập, thị trấn Hữu Lũng, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng S. Tuy nhiên, quá trình điều tra vụ án Đặng T Xuân không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì chính quyền địa phương và gia đình không biết. Liên quA đến người đàn ông tên “Hoàng” người Hà Nội, hiện nay Cơ quA A ninh điều tra Công A tỉnh Kom Tum đAg tiến hành điều tra, xác minh thông tin tội phạm về người đàn ông tên Hoàng nêu trên nên Cơ quA A ninh điều tra Công A tỉnh Hà Tĩnh đã chuyển các thông tin, tài liệu điều tra về người tên Hoàng đến Cơ quA A ninh điều tra Công A tỉnh Kon Tum để điều tra, xác minh làm rõ.
Quá trình điều tra vụ án, Hồ Tấn S, Nguyễn Văn H1 và Đào Văn H2 khai nhận ngoài lần chở Ah Chen You S1 (Quốc tịch Trung Quốc) không có hộ chiếu, giấy tờ xuất, nhập cảnh hợp pháp bị Công A tỉnh Hà Tĩnh phát hiện vào ngày 20/8/2021, trước đó S, H1 và H2 còn một số lần chở người Trung Quốc không có giấy tờ xuất, nhập cảnh hợp pháp từ Bắc vào Nam và ngược lại. Tuy nhiên, quá trình điều tra vụ án Cơ quA A ninh điều tra không thu thập được tài liệu nào khác ngoài lời khai nhận của các bị cA để chứng minh về thông tin, lai lịch, nhân thân, việc xuất nhập cảnh của những người khách Trung Quốc khác nên không có căn cứ để Cơ quA A ninh điều tra Công A tỉnh Hà Tĩnh xem xét, xử lý.
Về án phí: Các bị cáo S, H2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo H1 thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí HSST.
Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội dAh: Tuyên bố các bị cáo Hồ Tấn S, Nguyễn Văn H1 và Đào Văn H2 phạm tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép”.
2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 348; Điều 58, Điều 35; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 (đối với bị cáo H1), Điều 55, 56, 104 (đối với bị cáo S, H1), Điều 65 (đối bị cáo H2) Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Hồ Tấn S 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 05 (N) N tù tại bản án hình sự phúc thẩm số 434/2022/HS-PT, ngày 30/9/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung 07 (bảy) N tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/02/2022.
Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Hồ Tấn S 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng).
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 18 (mười tám) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 02 (hai) N tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 29/2022/HSST, ngày 04/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Kom Tum, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung 03 (ba) N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/4/2022.
- Xử phạt bị cáo Đào Văn H2 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời giA thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 20/4/2023. Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Đào Văn H2 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
Giao bị cáo Đào Văn H2 cho Ủy bA nhân dân xã Phúc Thắng, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời giA thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời giA thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện T3o quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 25.000.000đ (hai lăm triệu đồng) của Nguyễn Văn H1, 5.000.000đ (N triệu đồng) của Đào Văn H2.
4. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu IPHONE X, màu đen, IMEI: 359412085483281, đã qua sử dụng, trong điện thoại chứa thuê bao số 0395.449.828 của Đào Văn H2.
Tiếp tục tạm giữ: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu IPHONE 6S, màu trắng hồng, IMEI 355417079786213, đã qua sử dụng, trong điện thoại chứa thuê bao di động số 0878268686 của Nguyễn Văn H1; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu IPHONE XS, màu trắng, IMEI 357237091976446, đã qua sử dụng, trong điện thoại chứa thuê bao di động số 0971048486 của Nguyễn Văn H1; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu NOKIA, màu đen, IMEI 1: 352428904292478, IMEI 2: 352428906292476 đã qua sử dụng, trong điện thoại chứa một thuê bao số seri thuê bao 8401201113167177 của Đào Văn H2 để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án đối với bị cáo Nguyễn Văn H1, Đào Văn H2.
(Tình trạng cụ thể các vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/01/2023 giữa Cơ quA cảnh sát điều tra Công A tỉnh Hà Tĩnh và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh).
5. Về án phí: Căn cứ điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc các bị cáo Hồ Tấn S, Đào Văn H2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn H1.
6.Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -VKSND cấp cao tại Hà Nội; - TAD Cấp cao; - Phòng PV06 Công A tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh; - Phòng LLTP Sở Tư pháp; - Bị cáo; - THAHS TAD tỉnh Hà Tĩnh; - Lưu HSVA. Các Hội thẩm Bùi Văn Hồng Nguyễn Sỹ Quân | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trịnh Thị Thiện HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trịnh Thị Thiện |