vanban.org

Bản án 12/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 09/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Huỳnh Công Kh: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/7/2022.

Trả lại cho chị Hồ Yến Kim Dg - Chủ DNTN Kinh doanh vàng bạc cầm đồ Kim Kim Thuý số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng. (Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05/12/2022). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "12. Huỳnh Công Kh 171 - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Huỳnh Công Kh: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/7/2022.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2023/HS-ST
Ngày 09 - 02 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Danh Cư

2. Bà Nguyễn Thị Kính

- Th ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Th ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 219/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2023, đối với bị cáo:

Huỳnh Công Kh; sinh năm 1993, tại TP.HCM; nơi cư trú (hộ khẩu Thờng trú: 89/16 Lô J PVC, Phường BA, Quận S, TP.HCM; chỗ ở: Nhà không số Tổ 54, Ấp 4, xã HL, huyện BC, TP.HCM); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Công T và bà Lưu Thị H; có vợ và 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/7/2022 đến nay. (có mặt)

- Bị hại: Bà Đặng Nguyễn Thu D, sinh năm 1975; nơi cư trú (hộ khẩu Thờng trú: 202 Bis LHP, Phường MN, Quận Y, TP.HCM; chỗ ở: 243 LHP, Phường MN, Quận Y, TP.HCM). (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Hồ Yến Kim Dung, sinh năm 1986 - Chủ DNTN Kinh doanh vàng bạc cầm đồ Kim Kim Thuý; nơi cư trú: 77 Nguyễn Duy, Phường 14, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 26/6/2022, Huỳnh Công Kh điều khiển xe gắn máy biển số 59K2-462.10 đến nhà cũ tại Quận S, TP.HCM thì gặp anh vợ là Nguyễn Quốc Th và Th nhờ Kh chở đến Phường MN, Quận Y, TP.HCM. Sau đó, Kh giao xe cho Th điều khiển chở Kh, khi cả hai đi ngang qua nhà số 8 LVC, Phường MN, Quận Y, Th thấy bà Đặng Nguyễn Thu D ngồi trên xe gắn máy (xe đang dừng), trên cổ có đeo sợi dây chuyền vàng, Th rủ Kh giật sợi dây chuyền của bà D thì Kh đồng ý. Th quay đầu xe, dừng sau xe bà D, Kh xuống xe và đi bộ lại áp sát dùng tay giật sợi dây chuyền vàng của bà D đang đeo trên cổ, rồi nhanh chóng lên xe Th điều khiển chạy thoát. Bị giật tài sản, bà D tri hô, đuổi theo nhưng không kịp, sau đó bà D đến Công an trình báo. Khi bị giật sợi dây chuyền, bà D đã giữ lại được một phần tài sản là mặt dây chuyền.

Khoảng 18 giờ cùng ngày, Th chở Kh đến tiệm vàng Kim Kim Thúy tại số 301K4-301K5 BĐ, Phường MB, Quận Y, Kh vào tiệm bán sợi dây chuyền vàng (chiếm đoạt của bà D) cho chị Nguyễn Thị Ngọc L (quản lý tiệm vàng) với giá 6.300.000 đồng. Kh chia cho Th 3.000.000 đồng, Kh giữ 3.300.000 đồng. Sau đó, Th đi đâu không rõ, Kh điều khiển xe đi về. Số tiền 3.300.000 đồng, Kh đã tiêu xài cá nhân hết 2.300.000 đồng, còn lại 1.000.000 đồng. Đến ngày 27/6/2022, Kh đang ở nhà không số tổ 54, Ấp 4, xã HL, huyện BC, TP.HCM thì Công an Phường MN, Quận Y phối hợp với Công an huyện BC đến mời về trụ sở làm rõ và Kh thừa nhận hành vi chiếm đoạt tài sản nêu trên, đồng thời giao nộp số tiền 1.000.000 đồng và xe gắn máy biển số 59K2-462.10.

Từ lời khai của Huỳnh Công Kh, Công an đã liên hệ đến DNTN Kinh doanh vàng bạc cầm đồ Kim Kim Thuý do chị Hồ Yến Kim Dg làm chủ, chị Nguyễn Thị Ngọc L làm quản lý để xác minh làm rõ. Chị L thừa nhận có mua sợi dây chuyền từ Huỳnh Công Kh với giá 6.300.000 đồng nhưng không biết là tài sản do Kh chiếm đoạt của người khác. Chị L tự nguyện giao nộp lại sợi dây chuyền để Công an xử lý theo quy định.

Ngày 29/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ngày 01/7/2022 bắt tạm giam đối với Huỳnh Công Kh để điều tra về tội “Cướp giật tài sản”. Tại Cơ quan điều tra, Kh khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Tại Kết luận định giá tài sản ngày 21/12/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 8 kết luận: 01 dây chuyền vàng, dạng xoắn bướm, trọng lượng 3 chỉ 1 phân (61%) và 01 mặt tròn vàng 8 phân 7 ly (61%), có tổng trị giá là 13.100.000 đồng. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại tài sản nói trên cho bà D.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Đặng Nguyễn Thu D đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nên không có yêu cầu bồi thường thiệt hại. Chị Hồ Yến Kim Dg là chủ DNTN Kinh doanh vàng bạc cầm đồ Kim Kim Thuý yêu cầu Huỳnh Công Kh bồi Thờng số tiền 6.300.000 đồng là tiền mua sợi dây chuyền do Kh chiếm đoạt của bà D.

Việc tạm giữ, xử lý vật chứng:

- 01 (một) đĩa CD màu vàng Kachi lưu giữ hình ảnh Kh thực hiện hành vi phạm tội; 01 (một) USB màu xanh Kingston 2G lưu giữ hình ảnh Kh bán sợi dây chuyền.

- Số tiền 1.000.000 đồng do Kh phạm tội mà có.

- 01 (một) dây chuyền vàng, dạng xoắn bướm, trọng lượng 3 chỉ 1 phân (61%) của bà Đặng Nguyễn Thu D. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại tài sản cho bà D.

- 01 (một) xe gắn máy biển số 59K2-462.10. Qua xác minh do bà Lưu Thị H (mẹ của Huỳnh Công Kh) đứng tên đăng ký. Bà H cho Kh mượn xe sử dụng nhưng không biết Kh dùng xe làm phương tiện đi chiếm đoạt tài sản. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại xe trên cho bà Hạnh.

Tại bản Cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 27/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Huỳnh Công Kh về tội “Cướp giật tài sản”, theo khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa,

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Huỳnh Công Kh về tội “Cướp giật tài sản”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng, đề nghị xử lý theo quy định pháp luật. Về trách nhiệm dân sự, bị hại không có yêu cầu bồi Thờng nên không đề cập giải quyết; đề nghị chấp nhận yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hồ Yến Kim Dg - Chủ DNTN Kinh doanh vàng bạc cầm đồ Kim Kim Thuý về việc yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền 6.300.000 đồng.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 8, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định vào khoảng 17 giờ, ngày 26/6/2022, tại trước nhà số 8 LVC, Phường MN, Quận Y, TP.HCM, bị cáo Huỳnh Công Kh có hành vi công khai, nhanh chóng chiếm đoạt 01 dây chuyền vàng của bà Đặng Nguyễn Thu D, có trị giá là 13.100.000 đồng.

Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Cướp giật tài sản” như sau:

“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.”

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Huỳnh Công Kh đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.

Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng trong vụ án:

- Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, lập biên bản trả lại 01 dây chuyền vàng cho bị hại, đồng thời bị hại không có ý kiến gì về việc tạm giữ, xử lý vật chứng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- 01 (một) xe gắn máy biển số 59K2-462.10. Qua xác minh do bà Lưu Thị H (mẹ của Huỳnh Công Kh) đứng tên đăng ký. Bà H cho Kh mượn xe sử dụng nhưng không biết Kh dùng xe làm phương tiện đi chiếm đoạt tài sản. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại xe trên cho bà H. Bà H không có ý kiến gì về việc tạm giữ, xử lý vật chứng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- 01 (một) đĩa CD màu vàng Kachi lưu giữ hình ảnh Kh thực hiện hành vi phạm tội; 01 (một) USB màu xanh Kingston 2G lưu giữ hình ảnh Kh bán sợi dây chuyền, xét đây là chứng cứ có giá trị chứng minh tội phạm nên cần tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Hồ Yến Kim Dg là chủ DNTN Kinh doanh vàng bạc cầm đồ Kim Kim Thuý yêu cầu bị cáo Huỳnh Công Kh hoàn trả số tiền 6.300.000 đồng là tiền mua sợi dây chuyền do Kh chiếm đoạt của bà D. Xét thấy, tại phiên tòa bị cáo đồng ý hoàn trả theo yêu cầu của chị Dg. Đối với số tiền 1.000.000 đồng do bị cáo Kh giao nộp, qua điều tra xác định đây là số tiền trong tổng số tiền 6.300.000 đồng bị cáo có được do bán tài sản phạm tội mà có, là tài sản hợp pháp của chị Dg, do đó cần trả lại cho chị Dg số tiền 1.000.000 đồng này.

Số tiền 5.300.000 đồng không thu hồi được, xét là tiền bị cáo có được do bán tài sản phạm tội mà có, đây là tài sản hợp pháp của chị Dg nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), buộc bị cáo Kh tiếp tục hoàn trả lại cho chị Dg số tiền 5.300.000 đồng.

Đối với Nguyễn Quốc Th là người mà bị cáo Kh khai là cùng thực hiện hành vi cướp giật tài sản với bị cáo Kh, do Nguyễn Quốc Th hiện vắng mặt tại nơi cư trú nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã tách vụ án và ra quyết định truy tìm, khi nào phát hiện sẽ làm rõ sau nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

Đối với chị Nguyễn Thị Ngọc L khi mua sợi dây chuyền từ bị cáo, không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét xử lý là phù hợp quy định pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại các điều 23, 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thờng vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Huỳnh Công Kh: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/7/2022.

- Căn cứ vào Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự.

Trả lại cho chị Hồ Yến Kim Dg - Chủ DNTN Kinh doanh vàng bạc cầm đồ Kim Kim Thuý số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng.

(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05/12/2022).

Buộc bị cáo Huỳnh Công Kh hoàn trả cho chị Hồ Yến Kim Dg là chủ DNTN Kinh doanh vàng bạc cầm đồ Kim Kim Thuý số tiền 5.300.000 (năm triệu ba trăm ngàn) đồng, thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, cơ quan Thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chưa thi hành đầy đủ khoản tiền bồi thường thiệt hại về tài sản theo mức nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thờng vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Huỳnh Công Kh nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ