- Tranh chấp gì? án hình sự — "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Văn Đ phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12 /2023/HS-ST Ngày: 20 - 02 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Dân
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Nguyễn Duy Thảo
+ Ông Trần Minh Tám.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Công Hồng Lĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Vũ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2023/TLST-HS ngày 13/01/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXXST-HS ngày 06/02/2023 đối với bị cáo:
Phan Văn Đ, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2001, tại tỉnh Đăk Lăk;
Nơi cư trú: Tổ dân phố Q, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đăk Lăk;
Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 11/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Phan Văn T, sinh năm 1971 và bà Hồ Thị C, sinh năm 1976;
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Nhân thân: Tại bản án số: 81/2019/HSST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk, áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260 BLHS, xử phạt Phan Văn Đ 02 năm tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, hiện đang trong thời gian thử thách (thời điểm phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý Đ chưa đủ 18 tuổi).
Bị can đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 8 năm 2022, Phan Văn Đ tìm thấy có trang Facebook đăng thông tin làm giả giấy tờ các loại, Đ nhắn tin, cung cấp thông tin cá nhân và ảnh của mình, đặt làm giả một giấy phép lái xe ô tô hạng B2 với giá thỏa thuận 1.200.000 đồng. Khoảng 01 tuần sau, Đ được dịch vụ chuyển phát giao tại nhà 01 giấy phép lái xe hạng B2 số: 661211635206 mang tên Phan Văn Đ, sinh ngày 10/10/2001, nơi cư trú tổ dân phố Quyết Thắng, thị trấn Ea Pốk, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk, trong đó có dán ảnh của Đ do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 10/4/2022. Đ thanh toán cho người giao hàng đúng như số tiền đã thỏa thuận. Sau khi có được giấy phép lái xe ô tô giả nói trên, Đ sử dụng quay clip để khoe lên mạng Tiktok và cất trong ví.
Đến khoảng 21 giờ ngày 12/10/2022, Đ được bạn là Nguyễn Đắc L (sinh năm: 2000; trú: Số 26 Phạm Hữu Kính, TP.Đà Nẵng) điều khiển xe mô tô chở đi trên đường Thái Thị Bôi, quận Thanh Khê, TP.Đà Nẵng, do cả hai không đội mũ bảo hiểm nên khi đến trước nhà số 145 Thái Thị Bôi thì bị tổ công tác C2-911 Công an thành phố Đà Nẵng yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra giấy tờ liên quan và giấy tờ tùy thân, tổ công tác phát hiện Đ mang theo 01 giấy phép lái xe hạng B2 số: 661211635206 mang tên Phan Văn Đ có dấu hiệu nghi vấn không do cơ quan có thẩm quyền cấp nên hỏi về nguồn gốc, Đ đã trình bày và thừa nhận việc đặt mua giấy phép lái xe giả nói trên qua mạng xã hội Facebook. Tổ công tác đã bàn giao đối tượng cùng với tang vật cho Công an phường Chính Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
* Vật chứng tạm giữ: 01 giấy phép lái xe hạng B2 số 661211635206 mang tên Phan Văn Đ do Sở GTVT tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 10/4/2022 (được lưu trong hồ sơ vụ án).
* Tại Kết luận giám định số: 120 ngày 28/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: Giấy phép lái xe hạng B2 số 661211635206 mang tên Phan Văn Đ là giả.
Tại bản cáo trạng số 12/CT - VKS ngày 12/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Phan Văn Đ về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn Đ trình bày và thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố là đúng.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên toàn bộ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đ từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Căn cứ Điều 56 của Bộ luật hình sự, bị cáo phải chịu tổng hợp hình phạt của cả 02 bản án ( 02 năm tù của bản án số: 81/2019/HSST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk và mức hình phạt của bản án này).
- Về vật chứng: Tiếp tục lưu giữ 01 giấy phép lái xe hạng B2 số 661211635206 do Sở GTVT tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 10/4/2022 mang tên Phan Văn Đ.
* Bị cáo Phan Văn Đ nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo xin hứa sẽ không tái phạm, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra, xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng tháng 8 năm 2022, do có mục đích đăng video khoe lên mạng Tiktok nên Phan Văn Đ đặt làm giả 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 thông qua mạng xã hội Facebook. Sau khi có được giấy phép lái xe giả nói trên, Đ đã sử dụng để đăng clip và cất giấy phép lái xe này trong ví. Đến ngày 12/10/2022, Đ có hành vi vi phạm hành chính khi tham gia giao thông nên bị Tổ công tác C2-911 Công an thành phố Đà Nẵng kiểm tra, phát hiện giấy phép lái xe hạng B2 của Đ là giả.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Phan Văn Đ phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố là có cơ sở, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật, mức hình phạt đối với bị cáo như đã nêu ở phần trên, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ nên chấp nhận.
Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:
Bị cáo Phan Văn Đ là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm bằng lái xe giả là vi phạm pháp luật, nhưng đã trực tiếp liên lạc với người làm giả bằng lái xe ô tô qua mạng internet, đã cung cấp thông tin để làm giả bằng lái xe ô tô. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự. Do đó, đối với bị cáo cần phải xử phạt nghiêm để răn đe, giáo dục, cải tạo phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân: Năm 2019, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách là 04 năm kể từ ngày 27/11/2019. Đến tháng 8/2022 bị cáo có hành vi vi phạm pháp luật trong vụ án này. Như vậy là trong thời gian thử thách bị cáo lại phạm tội mới, căn cứ Điều 65 của Bộ luật hình sự thì hình phạt 02 năm tù cho hưởng án treo tại bản án hình sự sơ thẩm số 81/2019/HSST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk sẽ chuyển thành 02 năm tù giam.
Về phạt đối với bị cáo: Bị cáo đang chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới. Căn cứ Điều 56 của Bộ luật hình sự, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới là tội phạm của bản án này, sau đó tổng hợp với hình phạt chưa chấp hành của bản án trước tức là bản án số 81/2019/HSST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk. Bị cáo phạm tội lần này tuy thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng bị cáo có nhân thân xấu nên cần phải xử nghiêm mới có tính răn đe, do vậy bị cáo phải chịu hình phạt tù theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự là từ 06 tháng đến 02 năm. Tổng hợp hình phạt mà bị cáo phải chịu là mức án của bản án này cộng với 02 năm tù của bản án trước.
Về vật chứng: Đối với 01 giấy phép lái xe hạng B2 số 661211635206 mang tên Phan Văn Đ do Sở GTVT tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 10/4/2022, cần tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án (Vật chứng đang được lưu trong hồ sơ vụ án).
Trong vụ án có đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch) đã làm giả giấy phép lái xe ô tô hạng B2 cho Phan Văn Đ, quá trình điều tra vẫn chưa xác định được. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận Thanh Khê tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
- Căn cứ Điều 65; Điều 56 của Bộ luật hình sự;
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Văn Đ phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
2. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Phan Văn Đ 06 (sáu) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt với 02 năm tù của bản án số 81/2019/HSST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk. Bị cáo Phan Văn Đ phải chấp hành mức án của cả 02 bản án là: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bắt giam thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2, số 661211635206 mang tên Phan Văn Đ, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 10/4/2022 được kết luận là giả (Vật chứng đang được lưu trong hồ sơ vụ án).
4. Về án phí: Bị cáo Phan Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 20/02/2023.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND TP.Đà Nẵng; - Sở tư pháp TP. Đà Nẵng; - Viện kiểm sát nhân dân TP. Đà Nẵng; - Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê; - Công an quận Thanh Khê; - Chi cục T.H.A DS Q.Thanh Khê; - Lưu hồ sơ, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Dân |