vanban.org

Bản án 12/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An Tuyên án 06/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Trịnh Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trịnh Quốc T 03 (ba) năm tù. Thời gian tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 08/12/2022). Tiếp tục tạm giam bị cáo Trịnh Quốc T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 06/4/2023) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Quốc T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Trịnh Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦ THỪA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2023/HS-ST
Ngày: 06-4-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Nhị

2. Ông Nguyễn Văn Năm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thường Ân - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trịnh Quốc T: Sinh năm: 1970 (tên gọi khác: Không có); Giới tính: Nam; Nơi sinh: tại Long An; Nơi đăng ký HKTT: Ấp Long Thạnh, xã B, huyện T, tỉnh Long An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 3/12; Nghề nghiệp: làm thuê; Cha: Trịnh Khắc P, sinh năm 1942, Mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1942; bị cáo chưa có vợ và con;

Tiền án:

Ngày 14/4/2016 bị TAND huyện Thủ Thừa xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Ngày 29/7/2017 bị TAND huyện Thủ Thừa xử phạt 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; chấp hành xong ngày 25/01/2022.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

Ngày 21/01/1995 bị TAND huyện Thủ Thừa xử phạt 08 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

Ngày 31/10/2002 bị TAND huyện Thủ Thừa xử phạt 10 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Trốn khỏi nơi giam”;

Ngày 19/12/2011 bị TAND huyện Thủ Thừa xử phạt 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Bị tạm giam từ ngày 08/12/2022 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Thủ Thừa. (có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại: Ông Thái Phát Tr, sinh năm: 1971. Địa chỉ: Ấp Bình Lương 2, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Chí B, sinh năm: 2000; Địa chỉ: số 42 đường Đỗ Quang Thắng, phường P, tỉnh Quảng Ngãi. Chỗ ở hiện nay: ấp 2, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Quốc T đã tái phạm chưa được xóa án tích về tội “Trộm cắp tài sản”. Khoảng 08 giờ 30 ngày 02/12/2022, do cần tiền tiêu xài, Trịnh Quốc T đi bộ đến xã Bình Thạnh, huyện Thủ Thừa tìm tài sản lấy trộm. Khi đến trước nhà ông Đặng Ngọc Ẩn ở ấp Bình Lương 2, xã Bình Thạnh, Tâm phát hiện xe mô tô 59P1-599.94 của ông Thái Phát Tr đang đậu trước sân nhà ông Ẩn, có gắn chìa khóa trên xe nên Tâm quyết định lấy trộm. Tâm đi lại vị trí xe mô tô 59P1-599.94 dẫn ra ngoài rồi nổ máy chạy đến vựa phế liệu ở ấp 2, xã H, huyện B, Thành Phố Hồ Chí Minh bán cho anh Nguyễn Chí B được 800.000đ, Trịnh Quốc T đã tiêu xài hết số tiền trên. Ngày 07/12/2022, Công an xã Bình Thạnh mời Tâm về làm việc, tại cơ quan công an, Trịnh Quốc T đã thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 1280/KL-HĐĐG ngày 13/12/2022, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thủ Thừa, kết luận: Giá trị của một xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave S, biển số 59P1- 599.94 tại thời điểm ngày 02/12/2022, có trị giá 3.200.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 10/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa truy tố Trịnh Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trịnh Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản”. Trong phần luận tội, ông Kiểm Sát viên đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; Điều 50; các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Quốc T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Thủ Thừa đã trả lại cho bị hại nên không đề nghị xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người liên quan không yêu cầu nên không đề nghị xem xét.

Tại phiên tòa: Bị cáo không thực hiện quyền tranh luận mà xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Tại phiên tòa các bị cáo không khiếu nại các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Hồ sơ vụ án thể hiện trong giai đoạn điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố vụ án thì hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên tiến hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

. Ông Thái Phát Tr và Nguyễn Chí B vắng mặt không rõ lý do nhưng đều đã có lời khai trong quá trình điều tra đồng thời việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

. Về nội dung:

. Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã nêu, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại tại CQĐT, biên bản thu giữ vật chứng và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa nên có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 02/12/2022, tại ấp Bình Lương 2, xã Bình Thạnh, huyện Thủ Thừa, Trịnh Quốc T đã tái phạm chưa được xóa án tích về tội “Trộm cắp tài sản” lại có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe Honda của ông Thái Phát Tr có trị giá 3.200.000đồng. Do đó hành vi của bị cáo Trịnh Quốc T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản"quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

. Xét tính chất, mức độ và hậu quả hành vi gây ra: Hành vi trái pháp luật của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện do lỗi cố ý, hành vi đó không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần thiết phải xử lý bị cáo một hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[2. 3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

. Tình tiết tăng nặng: Không có.

. Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như: Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo Trịnh Quốc T là nghiêm trọng nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo. Tuy nhiên khi lượng hình xem xét áp dụng bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo hình phạt tù ở mức thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

. Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa đã phản ánh đúng hành vi mà bị cáo đã thực hiện, phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xác định cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa đề nghị của ông Kiểm sát viên là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về trách nhiệm dân sự: Ông Thái Phát Tr và ông Nguyễn Chí B không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.

. Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa có thu giữ vật chứng gồm: 01 xe mô tô biển số 59P1-599.94. Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa đã trả lại cho bị hại là phù hợp.

. Đối với Nguyễn Chí B là người mua xe mô tô biển số 59P1-599.94 nhưng không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT công an huyện Thủ Thừa không xử lý hình sự đối với ông Tâm là có căn cứ.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo: Trịnh Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; Điều 50; các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trịnh Quốc T 03 (ba) năm tù. Thời gian tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 08/12/2022).

2. Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tiếp tục tạm giam bị cáo Trịnh Quốc T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 06/4/2023) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 buộc bị cáo Trịnh Quốc T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.

4. Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 06/4/2023). Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ