- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Đặng Thúy D và ông Ngô Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2023/HNGĐ-ST Ngày: 22-5-2023 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mạc Văn Hên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Dũng.
2. Bà Trần Thị An.
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Tú, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên tham gia phiên toà: Bà Lâm Thanh Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 183/2022/TLST- HNGĐ, ngày 31 tháng 10 năm 2022 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 18 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đặng Thúy D, sinh năm 1984. Địa chỉ: Tổ 9, khu phố N, phường H, thành phố T, tỉnh Kiên Giang, có mặt.
2. Bị đơn: Ông Ngô Thanh T, sinh năm 1980. Địa chỉ: Tổ 9, khu phố N, phường H, thành phố T, tỉnh Kiên Giang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 12/10/2022, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Đặng Thúy D trình bày: Bà và ông Ngô Thanh T chung sống với nhau từ năm 2004, có tổ chức lễ cưới nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc, khoảng hơn mười năm trở lại đây ông bà phát sinh mâu thuẫn do ông T thường xuyên ăn nhậu, không quan tâm cuộc sống gia đình, vợ chồng thường hay cự cải, bất đồng ý kiến, vợ chồng đã ly thân từ tháng 4/2022. Từ thời điểm không còn chung sống với nhau đến nay bà và ông T không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa, chỉ trao đổi với nhau về vấn đề con cái, việc bà làm đơn xin ly hôn ông T biết và yêu cầu giải quyết đơn phương, ông T không đồng ý đến Tòa án. Nay tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Ngô Thanh T.
Về con chung: Có hai đứa con tên Ngô Thanh L, sinh ngày 17/6/2005 và Ngô Thanh Q, sinh ngày 17/8/2008. Ly hôn, bà xin được nuôi các con đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông T cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án ông Ngô Thanh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông T vẫn không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thúy D.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên phát biểu về việc tuân theo tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Bà Đặng Thúy D và ông Ngô Thanh T chung sống với nhau từ năm 2004 nhưng không có đăng ký kết hôn, trong quá trình chung sống ông bà thường xảy ra nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, ông bà đã ly thân không còn yêu thương chăm sóc nhau nữa, xét thấy tình trạng hôn nhân của ông bà đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Đặng Thúy D và ông Ngô Thanh T. Về con chung giao hai con chung tên Ngô Thanh L, sinh ngày 17/6/2005 và Ngô Thanh Q, sinh ngày 17/8/2008 cho bà D tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp với nguyện vọng của các con, ghi nhận ý kiến của bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng, về tài sản chung, về nợ chung không có nên không xem xét. Về án phí bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp ly hôn. Trong vụ án này bị đơn ông Ngô Thanh T cư trú tại khu phố N, phường H, thành phố T, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Ngô Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
Về hôn nhân: Bà Đặng Thúy D và ông Ngô Thanh T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2004 nhưng không có đăng ký kết hôn. Qua xác minh tại địa phương cho thấy ông bà chung sống với nhau không có đăng ký kết hôn là vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của ông bà không có giá trị pháp lý. Xét thấy, trong quá trình chung sống ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, ông bà đã ly thân không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa, quan hệ hôn nhân của ông bà lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Đặng Thúy D và ông Ngô Thanh T.
Về con chung: Ông bà có hai đứa con tên Ngô Thanh L, sinh ngày 17/6/2005, giới tính nam và Ngô Thanh Q, sinh ngày 17/8/2008, giới tính nam, ly hôn bà D xin được tiếp tục nuôi con đến tuổi trưởng thành. Xét thấy, tại biên bản ghi nhận nguyện vọng của con chưa thành niên ngày 28/3/2023 (BL 36, 37) các con đều có nguyện vọng được chung sống cùng bà D. Do đó, cần giao hai con chung cho bà D tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, ghi nhận ý kiến của bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng chi phí nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà D trình bày không có nên không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bà Đặng Thúy D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Đặng Thúy D và ông Ngô Thanh T.
2. Về con chung: Giao hai con chung tên Ngô Thanh L, sinh ngày 17/6/2005, giới tính nam và Ngô Thanh Q, sinh ngày 17/8/2008, giới tính nam cho bà Đặng Thúy D nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, ghi nhận ý kiến của bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng chi phí nuôi con chung. Bà D và các thành viên trong gia đình không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bà Đặng Thúy D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000736 ngày 31 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang nên bà không phải nộp thêm.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND thành phố Hà Tiên; - Chi cục THADS thành phố Hà Tiên; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Mạc Văn Hên |