vanban.org

Bản án 12/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Trần Quốc C và bà Lê Thị C1. Về con chung: Giao con chung tên Trần Quốc T, (nam, sinh ngày 28/06/2010) hiện đang sống chung với ông C tại số B đường L, khóm B, phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cho ông C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu T đủ 18 tuổi và b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BAN AN TRAN QUOC C - LE THI C"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2023/HNGĐ-ST
Ngày 23-02-2023
V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC

TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hà Văn Châu

Ông Huỳnh Phước

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Ý – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 293/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2022 về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Quốc C, sinh năm 1981 (có mặt).

Địa chỉ: Số B đường L, khóm B, phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Bà Lê Thị C1, sinh năm 1981 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số B đường L, khóm B, phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 05 năm 2022, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn ông Trần Quốc C trình bày:

Ông Trần Quốc C và bà Lê Thị C1 tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng ngày 20/04/2009. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, bà C1 có lời lẽ xúc phạm ông và gia đình ông, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được. Ông C quyết định ly hôn để mỗi bên có cuộc sống riêng.

Quá trình chung sống ông C và bà C1 có một con chung tên Trần Quốc T, sinh ngày 28/06/2010. Nhưng không có tài sản chung cũng không có nợ chung.

Nay ông Trần Quốc C yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Lê Thị C1.

Về con chung: Ông C yêu cầu được nuôi dưỡng người con chung là cháu Trần Quốc T, sinh ngày 28/06/2010 đến khi cháu T đủ 18 tuổi và không yêu cầu bà C1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn bà Lê Thị C1 từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay đều vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến gì:

- Ý kiến của kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tại phiên tòa:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn vắng mặt không thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Tại phiên tòa bị đơn bà Lê thị C2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn C2.

Xét yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quốc C, về quan hệ hôn nhân của ông Trần Quốc C và bà Lê Thị C1 không vi phạm các điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu ông C, bà C1 chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân giữa ông C, bà C1 bất đồng về quan điểm sống mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được. Gia đình hai bên có hòa giải, hàn gắn tình cảm cho ông C, bà C1 nhưng không có kết quả. Tại phiên tòa ông C xác định không còn tình cảm với bà C1, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không còn khả năng hàn gắn, cuộc sống chung vợ chồng không còn hạnh phúc và kiên quyết xin ly hôn với bà C1. Nhận thấy, tình trạng hôn nhân giữa các bên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông C được ly hôn với bà C1.

Về con chung: Ông C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung là cháu Trần Quốc T, sinh ngày 28/06/2010 đến khi cháu T đủ 18 tuổi, không yêu cầu bà C1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu T từ khi sinh ra đến nay đều do ông C, bà C1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau khi ông C, bà C1 phát sinh mâu thuẫn vợ chồng với nhau đến nay, cháu T được ông C chăm sóc, nuôi dưỡng về tâm sinh lý phát triển bình thường, được đi học đầy đủ. Đồng thời, tại biên bản ghi nhận ý kiến đối với cháu Trần Quốc T ngày 31/01/2023 cháu trình bày hiện cháu đang sống với cha tại số B đường L, khóm B, phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, nay cha và mẹ cháu ly hôn cháu có nguyện vọng được sống chung với cha và việc cháu có nguyện vọng sống chung với cha là tự nguyện, không ai ép buộc. Xuất phát từ mọi lợi ích của cháu T, tránh xáo trộn môi trường sống ảnh hưởng đến tâm lý của cháu T. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông C, giao cháu T cho ông C được tiếp tục nuôi dưỡng đến khi cháu T đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do ông C không yêu cầu bà C1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông Trần Quốc C tự khai không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Như đã phân tích nêu trên, lời đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung vụ án là có cơ sở chấp nhận.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Trần Quốc C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định tại Điểm a, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 5; Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228; Điều 273; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng: Khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Trần Quốc C và bà Lê Thị C1.

2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Quốc T, (nam, sinh ngày 28/06/2010) hiện đang sống chung với ông C tại số B đường L, khóm B, phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cho ông C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu T đủ 18 tuổi và bà Lê Thị C1 không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Bà Lê Thị C1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Ông Trần Quốc C tự khai không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Trần Quốc C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000872 ngày 29/11/2022 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng; ông Trần Quốc C đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Bà Lê thị C2 không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

5. Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ