vanban.org

Bản án 12/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 28/02/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phương Huỳnh T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phương Huỳnh T được ly hôn với ông TRAN PHUOC T. Về con chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trâm - Trahn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phương Huỳnh T.
  • Căn cứ chính? Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2023/HNGĐ-ST
Ngày 28 - 02- 2023
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Út Mẫn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Ngọc Trân

Bà Thái Kim Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thùy - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/2021/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2021 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 35/2022/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn bà Phương Huỳnh T, sinh năm 1996. Địa chỉ: 284/5A NTT, phường V L, thành phố RG, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn ông Tran Phuoc Tr, sinh năm 1981. Địa chỉ: 1030 Westminster Ave, Murphy, TX 75094, USA.

(Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Phương Huỳnh T trình bày:

Năm 2017, bà và ông TRAN PHUOC T quen biết nhau qua giới thiệu, quá trình tìm hiểu ông bà nảy sinh tình cảm, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 07 ngày 06/02/2017. Sau khi kết hôn, bà T ở lại Việt Nam còn ông TRAN PHUOC T quay về Hoa Kỳ làm việc và làm thủ tục bảo lãnh bà T qua Hoa Kỳ đoàn tụ. Trong thời gian chờ hoàn thành thủ tục bảo lãnh thì ông bà nảy sinh nhiều mâu thuẫn, ông TRAN PHUOC T là người hay ghen tuông, giận hờn nên vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn. Đầu năm 2019, ông TRAN PHUOC T đã hủy bỏ hồ sơ bảo lãnh bà qua Hoa Kỳ nên bà không thể đoàn tụ cùng ông TRAN PHUOC T.

Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: Cho bà được ly hôn với ông TRAN PHUOC T.

- Về con chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

- Bị đơn ông TRAN PHUOC T: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ cho ông TRAN PHUOC T về yêu cầu ly hôn của bà Phương Huỳnh T, nhưng không có kết quả. Do đó, Tòa án đã tiến hành thực hiện thủ tục đăng trên cổng thông tin điện tử và niêm yết các thủ tục tố tụng tại Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Hoa Kỳ, ấn định thời gian để ông TRAN PHUOC T thực hiện quyền trình bày ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, cũng như thông báo thời gian mở phiên tòa xét xử vụ án cho ông TRAN PHUOC T được biết, nhưng đến thời điểm xét xử sơ thẩm, ông TRAN PHUOC T vẫn vắng mặt và Tòa án không nhận được văn bản trình bày ý kiến của ông TRAN PHUOC T.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Phương Huỳnh T.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Phương Huỳnh T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; đối với ông TRAN PHUOC T vắng mặt tại phiên tòa theo thủ tục ủy thác tư pháp, thông báo và niêm yết hợp lệ. Căn cứ theo quy định tại các điều Điều 227, 228, 238 và 477 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Phương Huỳnh T:

Qua các tài liệu, chứng cứ thể hiện bà Phương Huỳnh T và ông TRAN PHUOC T quen biết nhau qua giới thiệu, hai bên có tình cảm yêu thương nhau và tự nguyện kết hôn, có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn số 07 ngày 06/02/2017. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định hôn nhân giữa bà Phương Huỳnh T và ông TRAN PHUOC T là hợp pháp.

Bà T xác định, sau khi kết hôn ông TRAN PHUOC T trở về Hoa Kỳ và làm thủ tục bảo lãnh bà qua Hoa Kỳ, ông bà thường xuyên liên lạc với nhau; tuy nhiên trong khoảng thời gian chờ bảo lãnh hai bên bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do ông TRAN PHUOC T ghen tuông nên vợ chồng thường nay sinh mâu thuẫn. Đầu năm 2019 ông TRAN PHUOC T hủy bỏ hồ sơ bảo lãnh bà qua Hoa Kỳ. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông TRAN PHUOC T.

Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp, thông báo, niêm yết hợp lệ cho ông TRAN PHUOC T, nhưng đến thời điểm xét xử sơ thẩm ông TRAN PHUOC T vẫn vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà T để Tòa án xem xét.

Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà Phương Huỳnh T và ông TRAN PHUOC T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phương Huỳnh T.

[3] Về con chung: Bà T xác định không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà T xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử xem xét.

[5] Về án phí: Bà T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã tạm nộp.

[6] Về chi phí thực hiện ủy thác tư pháp: Bà T phải chịu chi phí ủy thác tư pháp 200.000 đồng và chi phí thực tế ủy thác tư pháp 95 USD, bà T đã nộp xong.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, Điều 153, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 477 và Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phương Huỳnh T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phương Huỳnh T được ly hôn với ông TRAN PHUOC T.

2. Về con chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Bà Phương Huỳnh T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã tạm nộp, theo biên lai thu tiền số 0006855 ngày 30/12/2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.

5. Về chi phí thực hiện ủy thác tư pháp: Bà Phương Huỳnh T phải chịu lệ phí ủy thác tư pháp là 200.000 đồng, đã nộp xong theo biên lai thu số 0007867 ngày 05/01/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang, chi phí thực tế ủy thác tư pháp 95 USD, đã nộp xong theo chứng từ giao dịch ngày 05/01/2022 tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Kiên Giang.

6. Quyền kháng cáo: Bà Phương Huỳnh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Ông TRAN PHUOC T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung./.

Cỡ chữ