vanban.org

Bản án 12/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đào Thu Q được ly hôn anh Đinh Đình Hồng K. Về con chung: Giao 01 con chung là: Đinh Đình N, sinh ngày 23/6/2014 cho chị Đào Thu Q trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Q và anh K"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2023/HNGĐ-ST
Ngày 09-5-2023
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đinh Xuân Nhuần;

Bà Lê Thị Mai Hương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Văn Phong - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Việt Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đào Thu Q, sinh năm 1991; ĐKHKTT: Tổ 9 phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố Đ, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Đinh Đình Hồng K, sinh năm 1987; ĐKHKTT: Tổ 9 phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng; Hiện đang bị tạm giam tại T; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Đào Thu Q có đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 11 năm 2022 yêu cầu Toà án giải quyết cho chị và anh Đinh Đình Hồng K được ly hôn và trình bày:

Chị và anh Đinh Đình Hồng K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Ngọc Xuyên, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng ngày 29 tháng 01 năm 2015. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có với nhau một con chung. Sau đó đến năm 2020 anh chị bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về tính cách, quan điểm sống. Đỉnh điểm mâu thuẫn vào cuối tháng 01 năm 2022 anh Đinh Đình Hồng K phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” đối với cháu Đào Uyển N là con gái riêng của chị Đào Thu Q, hiện nay anh K đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an thành phố Hải Phòng. Từ khi anh K bị bắt tạm giam đến nay, vợ chồng sống ly thân, mỗi người một nơi, không ai còn quan tâm đến ai. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ vì anh K đã phạm tội với con gái riêng của chị, làm tổn thương cả về thể xác lẫn tinh thần của cháu nên chị không thể chấp nhận tha thứ cho anh K được nữa. Do vậy, chị làm đơn đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho chị được ly hôn với anh K.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là: Đinh Đình N, sinh ngày 23/6/2014. Ly hôn chị đề nghị được nuôi con vì thực tế con chung đang do chị chăm sóc, nuôi dưỡng và anh K hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam nên không có điều kiện để nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Q và anh K tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án, anh Đinh Đình Hồng K có bản tự khai, biên bản ghi lời khai thống nhất với chị Q về thời gian, điều kiện kết hôn, tình trạng hôn nhân, con chung giữa hai anh chị như chị Q trình bày là đúng. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2022 cho đến nay vì anh bị bắt về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” đối với cháu Đào Uyển N là con gái riêng của chị Đào Thu Q và hiện anh đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an thành phố Hải Phòng nên hai vợ chồng mỗi người một nơi, không ai còn quan tâm đến ai. Anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn và lỗi lầm của anh là không thể tha thứ nên anh cũng đồng ý ly hôn với chị Q. Về con chung: Anh đề nghị để chị Q được nuôi dưỡng con chung là Đinh Đình N, sinh ngày 23/6/2014 vì thực tế con đang ở với chị Q, do chị Q chăm sóc, nuôi dưỡng, mặt khác anh đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam nên không có điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con. Việc cấp dưỡng nuôi con do anh chị tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: anh K và chị Q tự thỏa thuận và không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tài liệu xác minh tại địa phương và gia đình nguyên đơn thể hiện: Mâu thuẫn giữa chị Q và anh K là có thật, nguyên nhân là do bất đồng tính cách và quan điểm sống, mặt khác anh K phạm tội “Giao cấp với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” đối với cháu Đào Uyển N là con riêng của chị Q và đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an thành phố Hải Phòng. Từ tháng 01 năm 2022 đến nay anh chị sống ly thân mỗi người một nơi, chị Q đã đưa hai con đi ở nơi khác không sống cùng với gia đình anh K nữa. Địa phương và gia đình chị Q đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết.

Tại phiên tòa chị Đào Thu Q có mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Tại phiên tòa anh Đinh Đình Hồng K vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh K vẫn giữ nguyên các ý kiến như đã trình bày tại bản tự khai gửi Tòa án.

* Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Thẩm phán đã xác định đúng về thẩm quyền giải quyết vụ án; về quan hệ pháp luật tranh chấp; về tư cách tham gia tố tụng; về việc thu thập tài liệu, chứng cứ; về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện Kiểm sát; việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn, bị đơn đều chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử cho chị Đào Thu Q được ly hôn anh Đinh Đình Hồng K. Về con chung: Giao con chung là: Đinh Đình N, sinh ngày 23/6/2014 cho chị Đào Thu Q trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con chung do anh chị tự thỏa thuận và không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung: Do anh chị tự thỏa thuận và không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Nguyên đơn chị Đào Thu Q phải nộp 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Tổ 9 phường Ngọc Xuyên, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thu Q và anh Đinh Đình Hồng K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Ngọc Xuyên, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, biên bản xác minh tại Tổ dân phố nơi chị Q, anh K cư trú thấy quá trình chung sống giữa chị Q và anh K có phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính cách, quan điểm sống không hợp nhau. Mặt khác anh K phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” đối với cháu Đào Uyển N là con gái riêng của chị Đào Thu Q và hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an thành phố Hải Phòng, nên từ tháng 01 năm 2022 đến nay anh chị sống ly thân mỗi người một nơi, không ai còn quan tâm đến ai. Như vậy có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn giữa chị Q và anh K là có thật. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Q và anh K đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không có cơ hội đoàn tụ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Chị Đào Thu Q và anh Đinh Đình Hồng K có một con chung là: Đinh Đình N, sinh ngày 23/6/2014. Xét thấy, từ khi anh K bị bắt tạm giam tại Trại Tạm giam Công an thành phố Hải Phòng, chị Q là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con, học hành và chốn ăn ở sinh hoạt ổn định, mặt khác anh K đang bị tạm giam nên không có điều kiện để nuôi con. Anh K cũng có ý kiến đề nghị để chị Q được nuôi con. Nên việc giao con chung là Đinh Đình N cho chị Q chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện thực tế và nguyện vọng của nguyên đơn, bị đơn. Bởi vậy, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao con Đinh Đình N cho chị Đào Thu Q trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con do chị Q và anh K tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Q và anh K tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Đào Thu Q phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đào Thu Q được ly hôn anh Đinh Đình Hồng K.

2. Về con chung: Giao 01 con chung là: Đinh Đình N, sinh ngày 23/6/2014 cho chị Đào Thu Q trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con do chị Đào Thu Q và anh Đinh Đình Hồng K tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trường hợp, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về tài sản chung: Do các bên không có yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết. Sau khi ly hôn, nếu không tự giải quyết được về tài sản chung, các bên có thể khởi kiện để giải quyết bằng một vụ án dân sự khác sau.

4. Về các vấn đề khác: Chị Đào Thu Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

5. Về án phí: Chị Đào Thu Q phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002685, ngày 05 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng. Chị Đào Thu Q đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Xuân Nhuần-Lê Thị Mai Hương

Nguyễn Thị Minh Phương

Cỡ chữ