vanban.org

Bản án 12/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị P.

Về hôn nhân: Chị Trần Thị P được ly hôn với anh Lã Phú K. Quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị P và anh Lã Phú K chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Về con chung: Giao cháu Lã Hải Minh sinh ngày 25/3/2019 cho chị Trần Thị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục đến khi cháu Minh thành … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Chị Trần Thị P; Bị đơn: Anh Lã Phú K"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

HUYỆN YÊN MÔ – TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 12 /2023/ HNGĐ - ST
Ngày 31/8/2023
“V/v ly hôn, tranh châp nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ – TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Toan

Bà Trần Thị Mão

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Mô

Ngày 31 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 96/2023/TLST – HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị P, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Xóm 4, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.

Bị đơn: Anh Lã Phú K, sinh năm 1993;

Địa chỉ: Xóm 4, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.

Hiện đang chấp hành án tại phân trại 2, đội 46, Trại giam Số 3, Cục C10, Bộ Công an.

Tại phiên tòa có mặt chị P, vắng mặt anh K có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, các bản tự khai và tại phiên tòa chị Trần Thị P trình bày:

Chị và anh Lã Phú K được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã K vào ngày 12/9/2018. Quá trình chung sống vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh K chơi bời dẫn đến nợ nần. Chị P và gia đình nhiều lần khuyên bảo nhưng anh K vẫn không sửa chữa nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn, Đến năm 2021 anh K chơi bời, vi phạm pháp luật bị Toà án nhân dân quận Hoàng Mai xử phạt 4 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến nay chị P xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Toa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lã Phú K.

Về con chung: Chị và anh K có 1 con chung là cháu Lã Hải Minh sinh ngày 25/3/2019, khi ly hôn chị Phương xin được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Minh đến khi cháu Minh thành niên, không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và công nợ chung: Chị và anh K không có tài sản chung và công nợ chung nên không đề nghị Toà án giải quyết.

* Tại bản tự khai anh Lã Phú K trình bày:

Anh kết hôn với chị Trần Thị P hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã K. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 1/2021 do anh chơi bời dẫn đến nợ nần nên vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn, hiện nay anh đang đi chấp hành án tại Trại giam số 3. Đến nay chị P làm đơn xin ly hôn, anh thấy tình cảm giữa anh và chị P không còn nên anh cũng đồng ý ly hôn với chị P.

Về con chung: anh và chị P có 01 con chung là cháu Lã Hải Minh sinh ngày 25/3/2019. Khi vợ chồng anh ly hôn anh nhất trí để chị P được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục cháu Minh đến khi cháu thành niên.

Về tài sản chung và công nợ chung: Anh và chị P không có tài sản chung và công nợ chung nên không đề nghị Toà án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và yêu cầu của đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện của chị Trần Thị P, bị đơn là anh Lã Phú K có hộ khẩu thường trú tại xóm 4, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Do vậy Tòa án nhân dân huyện Y thụ lý giải quyết vụ án là đúng qui định tại Điều 28 và 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngày 3/8/2023 anh Lã Phú K có đơn xin giải quyết vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Lã Phú K là phù hợp với Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị P và anh K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 12/9/2018 tại UBND xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn chị P và anh K chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh K chơi bời dẫn đến nợ nần, chị P và gia đình nhiều lần khuyên bảo nhưng anh K vẫn không sửa chữa. Đến năm 2021 anh K vi phạm pháp luật bị Toà án nhân dân quận Hoàng Mai xử phạt 4 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nên mâu thuẫn vợ chồng giữa chị P và anh K càng trầm trọng hơn. Đến nay chị P thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lã Phú K. Tại bản tự khai, anh K cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên cũng đồng ý ly hôn với chị P. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị P, xử chị Trần Thị P được ly hôn với anh Lã Phú K là phù hợp với Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị P và anh K có 01 con chung là cháu Lã Hải M sinh ngày 25/3/2019, khi ly hôn chị P xin được nuôi cháu M và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con. Anh Lã Phú K cũng nhất trí giao cháu M cho chị P chăm sóc nuôi dưỡng đến khi cháu Minh thành niên. Do vậy cần chấp nhận đề nghị của chị P; giao cháu Lã Hải M cho chị P trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi cháu M thành niên; anh K không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị P là phù hợp với Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.

Về tài sản chung và công nợ: Chị Trần Thị P và anh Lã Phú K không có tài sản chung, công nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: chị Trần Thị P phải nộp toàn bộ án phí ly hôn theo qui định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 5 – Đều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị P.

- Về hôn nhân: Chị Trần Thị P được ly hôn với anh Lã Phú K. Quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị P và anh Lã Phú K chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

- Về con chung: Giao cháu Lã Hải Minh sinh ngày 25/3/2019 cho chị Trần Thị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục đến khi cháu Minh thành niên. Anh Lã Phú K không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị P.

Anh K được quyền thăm nom, chăm sóc con chung.

2. Án phí: Chị Trần Thị P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số AA/2021/0006534 ngày 20/7/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Mô.

3. Án xử công khai sơ thẩm, chị P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ