- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chi T xin ly hôn anh Ch"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị T về việc ly hôn và nuôi con đối với anh Ngô Quang Ch.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LINH TỈNH QUẢNG TRỊ ——————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2023/HNGĐ-ST Ngày 27-9-2023 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Với Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Chung;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Cao Cường.
Bà Lê Thị Mỵ.
- Thư ký phiên Tòa: Ông Trương Hồng Quang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
Ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 130/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 9 năm 2023, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1986.
Trú tại: Thôn B A, xã V Ch, huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị. Có.
- Bị đơn: Anh Ngô Quang Ch, sinh năm 1974.
Trú tại: Thôn C M, xã V Gi, huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị. Vắng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 21/6/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Ngô Quang Ch đăng ký kết hôn tại UBND xã V Gi, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị vào năm 2014. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, nhưng khoảng 03 năm trở lại đây vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn với lý do tích cách không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cải vả, anh Ch nhiều lúc còn dùng vũ lực đối với chị T, nay vợ chồng không còn chung sống với nhau. Đã một lần chị T khởi kiện xin ly hôn, nhưng với mong muốn anh Ch thay đổi để xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng anh Ch vẫn không thay đổi. Nay mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T có nguyện vọng xin được ly hôn anh Ngô Quang Ch.
Về con chung: Có một con chung: Cháu Ngô Thùy Tr, sinh 08/8/2014. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn, chị T có nguyện vọng nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Bị đơn anh Ngô Quang Ch đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Ngô Quang Ch không có mặt nên không có lời khai tại Tòa án.
Phía nguyên đơn chị Trần Thị T có đơn đề nghị Tòa không tiến hành hòa giải.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
. Về tố tụng:
. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Trần Thị T và anh Ngô Quang Ch có quan hệ hôn nhân hợp pháp, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Giang, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị năm 2014. Nguyên đơn chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Ngô Quang Ch nên Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ pháp luật “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
. Về thẩm quyền giải quyết: Do bị đơn anh Ngô Quang Ch có địa chỉ cư trú tại xã Vĩnh Giang, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị nên vụ án tranh chấp trên thuộc thẩm quyển giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
. Về nội dung:
. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Trần Thị T và anh Ngô Quang Ch là hôn nhân hợp pháp vì anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Sau khi đăng ký kết hôn năm 2014, cuộc sống vợ chồng đầm ấm, hạnh phúc, nhưng thời gian gần đây vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn với lý do tích cách không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cải vả, anh Ch nhiều lúc còn dùng vũ lực đối với chị T, nay vợ chồng không còn chung sống với nhau. Đã một lần chị T khởi kiện xin ly hôn, nhưng với mong muốn anh Ch thay đổi để xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng anh Ch vẫn không thay đổi. Nay mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T có nguyện vọng xin được ly hôn anh Ngô Quang Ch.
Tòa án đã cấp tống đạt các thông báo về các phiên hòa giải nhưng anh Ngô Quang Ch không có mặt nên không tiến hành hòa giải được. Anh Ngô Quang Ch không có ý kiến, không quan tâm vợ con, không có tin tức gì. HĐXX thấy, hôn nhân giữa chị Trần Thị T và anh Ngô Quang Ch không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn, nên có cơ sở cho chị T được ly hôn anh Ch.
. Về con chung: Quá trình chung sống chị T và anh Ch có 01 người con chung tên là: Cháu Ngô Thùy Tr, sinh 08/8/2014, chị T có nguyện vọng xin được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Anh Ch sau khi nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, không có ý kiến, không quan tâm vợ con. Cháu Thùy Tr từ nhỏ đến lớn ở với chị T nên nguyện vọng xin được nuôi con của chị T là chính đáng nên cần thiết giao cháu Ngô Thùy Trang, sinh 08/8/2014 cho chị Trần Thị T nuôi dưỡng, anh Ngô Quang Ch không phải cấp dưỡng nuôi con, có quyền thăm nom, chăm sóc con. Do đó, căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của chị T, giao cháu Ngô Thùy Trang, sinh 08/8/2014 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Thùy Tr thành niên và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân. Anh Ch không phải cấp dưỡng nuôi con, có quyền thăm nom, chăm sóc con mà không ai được ngăn cản.
. Về tài sản chung: Không có nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227,Điều 228, Điều 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 51; Điều 53; Điều 56 và các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án năm 2016.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị T về việc ly hôn và nuôi con đối với anh Ngô Quang Ch.
- Về tình cảm: Chị Trần Thị T được ly hôn anh Ngô Quang Ch.
- Về con chung: Giao cháu Ngô Thùy Tr, sinh 08/8/2014 cho chị Trần Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Trùy Trang thành niên và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân. Anh Ngô Quang Ch không phải cấp dưỡng nuôi con, có quyền thăm nom, chăm sóc con mà không ai được ngăn cản.
2. Về án phí: Chị Trần Thị T chịu 300.000 đồng án phí DSST về việc ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0000399 ngày 28/7/2023 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Vĩnh Linh. Chị Trần Thị T đã nộp đủ tiền án phí DSST.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 27/9/2023. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAT Quảng Trị; - VKSND huyện Vĩnh Linh; - Chi cục THADS huyện Vĩnh Linh; - UBND xã Vĩnh Giang, Vĩnh Linh; - Các đương sự; - Lưu VT; Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Chung |