- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhân đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Bẩy.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ - HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2023/HNGĐ-ST Ngày 12 tháng 4 năm 2023 (V/v: Tranh chấp HNGĐ) |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ - TP HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Kiến
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vân và ông Đặng Viết Côi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Lành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên Tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 45/2023/TLST – HNGĐ ngày 16 tháng 2 năm 2023, về việc: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXX – ST ngày 16/3/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2023 ngày 24/03/2023 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1991 (có mặt)
* Bị đơn: Anh Phạm Văn H, sinh năm 1991 (vắng mặt)
Đều có HKTT: thôn P, xã P, huyện U, TP. Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai - Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bẩy trình bày: Chị kết hôn với anh Phạm Văn H là tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Phù Lưu, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội năm 2019. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại địa phương xã Phù Lưu một thời gian thì ra Hà Nội thuê nhà làm ăn buôn bán. Quá trình chung sống vợ chồng liên tục mâu thuẫn, cãi chửi nhau, đôi lúc còn đánh nhau; nguyên nhân là do anh H là người cục cằn, anh Hòa thường xuyên chửi bới, súc phạm đánh đập chị. Tháng 12/2022 chị đã làm đơn ra tòa xin ly hôn nhưng lúc đó chị mang thai cháu thứ 2 hơn nữa anh Hòa hứa sửa chữa khuyết điểm, vì thương con nên chị đã rút đơn về, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn thì anh H lại tiếp tục chửi bới, súc phạm đánh đập chị. Do không thể chịu được nên chị đã sống ly thân và ra ở riêng nhiều tháng nay. Nay, xét thấy không còn tình cảm gì với anh Hòa, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc nên chị xin ly hôn với anh H để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Khôi N, sinh ngày 20/8/2020 và Phạm Khánh A, sinh ngày 10/8/2022, hiện nay cả hai cháu vẫn đang ở với chị. Sau ly hôn chị xin được nuôi 2 con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng.
Về tài sản, công nợ chung, công sức: Chị B đều xác nhận không có gì nên không đề nghị Tòa xem xét, giải quyết.
* Bị đơn: Anh Phạm Văn H vắng mặt nên không có quan điểm.
* Tại biên bản lấy lời khai ông Phạm Văn T là bố đẻ anh H trình bày: Hôn nhân của chị B và anh H là tự nguyện, hợp pháp. Năm 2019 gia đình ông bà đã tổ chức đám cưới cho anh chị theo phong tục địa phương. Sau khi cưới, vợ chồng sống cùng ông bà, sau đó ông bà tạo điều kiện chăm sóc con cho vợ chồng ra Hà Nội làm ăn. Quá trình chung sống vợ chồng không được hạnh phúc, đôi lúc có xô sát, cãi chửi nhau. Ông bà cũng đã nhiều lần khuyên giải nhưng anh chị không hòa thuận được, hiện tại chị B đã sống ly thân. Ông bà không mong muốn nhưng nếu các con vẫn kiên quyết ly hôn thì đấy là quyền của các con. Trong thời gian sinh sống cùng ông bà, chị B không đóng góp công sức gì, cũng không có tài sản, công nợ gì. Ông xác nhận việc gia đình nhiều lần có nhận được giấy triệu tập của Tòa đối với anh H, ông và anh H đều biết việc chị B xin ly hôn nhưng anh H có quan điểm sẽ không đến tòa làm việc, mặc kệ chị Bẩy xin ly hôn, mặc kệ Tòa giải quyết. Nay ông có quan điểm đề nghị Tòa giải quyết cho anh chị theo quy định pháp luật. Ông tiếp tục nhận các văn bản tố tụng của Tòa và cam kết có trách nhiệm giao lại cho anh H, động viên anh H đến Tòa.
* Tại biên bản xác minh, chính quyền địa phương xã Phù Lưu xác nhận: Chị Nguyễn thị B và anh Phạm Văn H đều có hộ thẩu thường trú tại địa phương, anh chị kết hôn năm 2019 là tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại địa phương. Qúa trình chung sống của anh chị không có hạnh phúc do anh H không có trách nhiệm với gia đình, vợ chồng thường xuyên đánh cãi chửi nhau, hiện tại vợ chồng đã ly thân, mỗi người một nơi. Căn cứ vào cuộc sống thực tế của chị B, anh H đề nghị tòa giải quyết cho chị B được ly hôn anh Hòa.
Tại phiên tòa:
- Anh Phạm Văn H không có mặt tại tòa, không có quan điểm;
- Chị Nguyễn Thị B vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn, xin được tiếp tục nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa có quan đểm:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho người thân của bị đơn; tuy nhiên, bị đơn cố tình trốn tránh không đến tòa để giải quyết vụ án nên việc Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn sau khi thực hiện đầy đủ các trình tự thủ tục tố tụng là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Xét lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thấy rằng, trong thời gian chung sống giữa chị B và anh H phát sinh nhiều mâu thuẫn; vợ chồng đã có thời gian dài sống ly thân, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Bẩy; việc chị B xin được nuôi cả 2 con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện và phù hợp thực tế nên cần chấp nhận. Về tài sản, công sức và nợ chung chị Bẩy xác nhận đều không có gì nên không xem xét; giả thiết, nếu có sau này anh H có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác. Về án phí: Chị B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị B và anh Phạm Văn H đều có HKTT tại huyện Ứng Hòa, chị Bẩy làm đơn ly hôn, nộp các tài liệu kèm theo và đã nộp tiền tạm ứng án phí ly hôn. Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa thụ lý, giải quyết vụ việc là đúng thẩm quyền quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Bị đơn anh Hòa đã được Tòa triệu tập nhiều lần nhưng cố tình không có mặt, Tòa án đã tiến hành làm việc với gia đình, giao các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 179 BLTTDS cho ông Phạm Văn Tiến là bố đẻ anh Hòa; ông Tiến đều xác nhận việc đã giao các văn bản này cho anh Hòa. Ngày 24/3/2023, Tòa mở phiên tòa xét xử vụ án nhưng anh Hòa vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa và giao các văn bản tố tụng theo qui định; tại phiên tòa hôm nay anh Hòa vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3, Điều 228 BLTTDS Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị B và anh Phạm Văn H kết hôn tự nguyện, có đăng kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng chỉ hạnh phúc được một thời gian ngắn rồi phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, lối sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên đánh, cãi chửi nhau. Vợ chồng đã sống ly thân một thời gian dài. Nay chị B nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, xin được ly hôn để ổn định cuộc sống. Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương cũng phù hợp với lời khai của chị B.
Xét đời sống, mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng, cuộc sống không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; vì vậy, yêu cầu, đề nghị xin ly hôn của chị Bẩy đối với anh Hòa là phù hợp với qui định của pháp luật nên cần được chấp nhận.
Về con chung: Vợ chồng chị B, anh H có 02 con chung là Phạm Khôi N, sinh ngày 20/8/2020 và Phạm Khánh A, sinh ngày 10/8/2022. Cháu N và cháu A hiện đều còn nhỏ, đều dưới 36 tháng tuổi, từ khi vợ chồng ly thân đến nay vẫn đều do chị B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Đối với các cháu hiện nay rất cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng của người mẹ; hơn nữa, anh H đã được triệu tập, tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng cố tình vắng mặt, không có lý do, không có quan điểm. Do vậy, yêu cầu của chị B xin được nuôi 02 con là chính đáng, phù hợp về mọi mặt nên được chấp nhận. Việc chị B không yêu anh Hòa cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện cần được chấp nhận.
Về tài sản, công sức và công nợ chung: Chị B trình bày đều không có gì; anh Hòa không có ý kiến, quan điểm trình bày về vấn đề này; do vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Giả thiết, nếu có thì anh H được quyền khởi kiện nội dung này trong vụ án dân sự khác.
Về án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí; nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Về quan điểm của Viện kiểm sát: Quan điểm, đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm, nhận định của Hội đồng xét xử.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 36, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhân đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Bẩy.
Xử: Chị Nguyễn Thị Bẩy được ly hôn với anh Phạm Văn Hòa.
Về con chung: Giao chị Bẩy tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung là Phạm Khôi Nguyên, sinh ngày 20/8/2020 và Phạm Khánh An, sinh ngày 10/8/2022 cho đến khi trưởng thành hoặc có đề nghị, thay đổi khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Hòa cho đến khi chị Bẩy có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác.
Không ai được ngăn cản việc thăm hỏi con chung sau khi ly hôn.
Về tài sản, công sức và nợ chung: Chị B xác nhận đều không có gì. Giành quyền khởi kiện cho anh H trong vụ án dân sự khác nếu có căn cứ.
Về án phí: chị Nguyễn Thị B phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm được đối trừ tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị B đã nộp theo biên lai số 0057886 ngày 16/02/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận : - TANDTP Hà Nội; - VKSND huyện Ứng Hoà; - Chi cục THADS huyện Ứng Hoà; - UBND xã Phù Lưu; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án; VP./. Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Đình Kiến Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |