- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Võ Thị V và ông Nguyễn Văn D"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL-UB…
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2023/HNGĐ-ST. Ngày 04-4-2023. V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Bích Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Lâm Thị Loan Em.
- Ông Cao Văn Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Ni – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Nguyệt Hân – Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2023, về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST-NHGĐ, ngày 21 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị V, sinh ngày 09/7/1993 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã C, huyện H, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện H, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 15/11/2022 cũng như tại phiên toà nguyên đơn bà Võ Thị V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị V và ông Nguyễn Văn D cưới vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, tính cách không hoà hợp, bà và ông D không còn chung sống chung từ năm 2016 đến nay, bà V yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có ba người con chung là cháu Nguyễn Quốc T, sinh ngày 03/3/2011; cháu Nguyễn Thị Thảo Y, ngày 15/11/2012 và cháu Nguyễn Thị Như Q, sinh ngày 29/10/2015, con đang do bà V nuôi dưỡng. Bà V yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Văn D không có văn bản cung cấp lời khai.
Đại diện Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Từ khi thụ lý đến kết thúc phần tranh luận tại phiên tòa, Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa, các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị chấp nhận cho nguyên đơn được ly hôn, giao con cho nguyên đơn nuôi, không buộc bị đơn cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Trong quá trình tiến hành tố tụng, Toà án tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, thông báo mở phiên họp công khai tài liệu, chứng cứ và hoà giải, triệu tập tham gia phiên toà đối với bị đơn ông Nguyễn Văn D lần thứ hai nhưng ông D đều vắng mặt, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị V và ông Nguyễn Văn D tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thấy rằng qua lời trình bày của nguyên đơn, qua kết quả xác minh cho thấy trong quá trình chung sống bà V và ông D thực tế có phát sinh mâu thuẫn, dẫn đến vợ chồng không còn chung sống với nhau đã nhiều năm, từ khi bà V yêu cầu ly hôn cho đến nay ông D không đến để hòa giải, cũng không có văn bản phản đối việc ly hôn. Như vậy cho thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đến nay vẫn không giải quyết được, không còn sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, nếu tiếp tục kéo dài là không thể mang lại hạnh phúc, vì vậy Hội đồng xét xử cần chấp nhận cho bà V được ly hôn là phù hợp theo quy định pháp luật.
Về con chung: Trong quá trình chung sống bà V và ông D có ba người con chung là cháu Nguyễn Quốc T, sinh ngày 03/3/2011, cháu Nguyễn Thị Thảo Y, sinh ngày 15/11/2012 và cháu Nguyễn Thị Như Q, sinh ngày 29/10/2015, hiện các con đang sống chung với bà V, bà V yêu cầu được quyền nuôi con, không có yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy cháu T, cháu Y và cháu Q còn nhỏ, đã sống ổn định với bà V nên giao cho bà V tiếp tục nuôi dưỡng, bà V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không buộc ông D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, khi nào bà V có yêu cầu thì có quyền khởi kiện để được xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không ai có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bà Võ Thị V phải chịu án phí hôn nhân là 300.000 đồng, theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tại phiên toà Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn, giao con cho nguyên đơn nuôi dưỡng là phù hợp quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Võ Thị V được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Quốc T, sinh ngày 03/3/2011, cháu Nguyễn Thị Thảo Y, sinh ngày 15/11/2012 và cháu Nguyễn Thị Như Q, sinh ngày 29/10/2015 cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi.
Ông Nguyễn Văn D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở ông thực hiện quyền này.
- Tài sản chung, nợ chung: Không ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ việc ly hôn.
- Về án phí: Nguyên đơn bà Võ Thị V phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà đã nộp theo biên lai thu số 0002891 ngày 04/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị, bà V đã nộp xong án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự vắng mặt kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy Ban nhân dân nơi đương sự cư trú) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Thạnh Trị; - Chi cục THADS huyện Thạnh Trị; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trịnh Thị Bích Phượng |