- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Chị Nguyễn T Y T, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Thôn TH, xã SH, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên. Địa chỉ: Thôn PV, xã BK, thành phố Tuy…"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn T Y T được ly hôn với anh Huỳnh A K.
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2023/HNGĐ-ST Ngày: 08/9/2023 V/v Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Kha.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cử và bà Nguyễn Vũ Yến.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 32/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2023/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn T Y T, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Thôn TH, xã SH, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên. Địa chỉ: Thôn PV, xã BK, thành phố Tuy Hòa tỉnh Phú Yên. Có mặt.
Bị đơn: Anh Huỳnh A K, sinh năm 1992. Cư trú: Thôn TH, xã SH, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh K tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã Sơn Hà, huyện Sơn Hòa. Sau khi kết hôn, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh K ham vui, chơi game online không lo cho kinh tế gia đình, không quan tâm đến việc tích lũy kinh tế để nuôi dạy con cái; chị T có khuyên nhủ nhiều mà anh K không nghe mà còn có hành động chửi bới và đánh chị T và đuổi chị T về nhà mẹ tại thôn Phú Vang, xã Bình Kiến, thành phố Tuy Hòa. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021, chị T đem cháu nhỏ về ngoại sinh sống. Hiện tại anh K không hề quan tâm tới vợ con chỉ nhắn tin qua điện thoại nói chị T vì con cái nên quay lại với nhau nhưng thực tế đã lâu 02 vợ chồng không cùng chung sống và không hề quan tâm tới nhau. Chị T xác định hiện tại tình cảm vợ chồng không còn do đó đề nghị Tòa cho ly hôn với anh K.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Huỳnh Anh T, sinh ngày 06/6/2016 và cháu Huỳnh Anh T1, sinh ngày 04/10/2019; hiện tại cháu T đang sinh sống cùng cha và ông bà nội tại địa phương, cháu T1 đang sinh sống tại thôn Phú Vang cùng chị T và ông bà ngoại.Về nuôi con chung: Khi ly hôn nguyên đơn đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Huỳnh Anh T1. Giao cháu Huỳnh Anh T cho anh Huỳnh A K trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung và đề nghị không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung do mỗi người đều nuôi 01 con chung.
Về chia tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh K không có bản tự khai, không tham gia các phiên làm việc, hòa giải, xét xử khi tòa án triệu tập.
Tại biên bản làm việc, xác minh ngày 20/6/2023, ông Huỳnh Văn Nông và bà Hà Thị Như (là cha mẹ ruột anh Huỳnh A K) cung cấp thông tin: Quá trình chung sống anh K và chị T phát sinh mâu thuẫn trong sinh hoạt đời Tờng. Chị T bỏ về nhà mẹ ruột tại thành phố Tuy Hòa. Hiện tại các con chung là cháu Huỳnh Anh T, sinh năm 2016 đang sống cùng cha và ông bà nội tại thôn Thạnh Hội, xã Sơn Hà, huyện Sơn Hòa còn cháu Huỳnh Anh T1, sinh năm 2019 đang sống cùng chị T tại thành phố Tuy Hòa. Anh K có về nhà làm căn cước công dân vào tháng 5/2023 và thỉnh thoảng vẫn về thăm nhà và con; việc tòa án thụ lý vụ án ly hôn anh K có biết và có ý kiến do bận công việc nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Anh K nói với cha mẹ là vẫn muốn đoàn tụ vợ chồng nhưng nếu chị T cứ khăng khăng đòi ly hôn thì anh K chấp nhận; về nuôi con chung anh K đề nghị giao cháu T cho anh K nuôi, cháu T1 cho chị T nuôi và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung vì mỗi người đều nuôi 01 con chung.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX) và T ký trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tuân thủ đúng quy định pháp luật. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày, tranh luận của các đương sự tại phiên tòa đề nghị HĐXX căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn; căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh K. Về nuôi con chung: Giao cháu Huỳnh Anh T1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giao cháu T cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trih không yêu cầu nên không xét. Về tài sản chung và nợ chung: Đề nghị không xem xét do đương sự không có yêu cầu. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, HĐXX nhận thấy:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ và vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về hôn nhân: Chị T và anh K tự nguyện tìm hiểu và tự nguyện đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Sơn Hà, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên như vậy hôn nhân được xác định là hợp pháp. Từ các tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình giải quyết vụ án HĐXX thấy rằng giữa chị T và anh K đã xảy ra mâu thuẫn trong sinh hoạt, bất đồng quan điểm sống, hiện tại trong cuộc sống người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc nhau muốn sống ra sao thì sống, hai vợ chồng không cùng chung sống cùng nhau từ lâu. Mâu thuẫn gia đình giữa chị T và anh K đã lâm vào tình trạng trầm trọng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T được ly hôn với anh K.
Về nuôi con chung: Hiện tại cháu T đang sống cùng cha và ông bà nội tại thôn Thạnh Hội và cháu T1 đang sống cùng mẹ tại Tuy Hòa; trên cơ sở ý kiến tự nguyện của các đương sự trong vụ án và để đảm bảo sự phát triển ổn định về thể chất và tinh thần, môi trường sống, học tập đối với con chung, HĐXX quyết định giao cháu Huỳnh Anh T1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giao cháu Huỳnh Anh T cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.Về cấp dưỡng nuôi con chung: Trên cơ sở ý kiến các đương sự, HĐXX quyết định anh K và chị T không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về chia tài sản chung và nghĩa vụ tài sản: Các đương sự không có yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Chị T phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 107, 110 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn T Y T được ly hôn với anh Huỳnh A K.
2. Về nuôi con chung:
Giao cháu Huỳnh Anh T, sinh ngày 06/6/2016 cho anh Huỳnh A K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.
Giao cháu Huỳnh Anh T1, sinh ngày 04/10/2019 cho chị Nguyễn T Y T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh K và chị T không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn T Y T phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, chị T đã nộp đủ số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tại Biên lai số 0008809 ngày 03/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án hoặc niêm yết bản án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -Các đương sự;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND H.Sơn Hòa; -Chi cục THADS H.Sơn Hòa; -TAND tỉnh Phú Yên; -UBND xã Sơn Hà, H. Sơn Hòa; (GCNKH số 36/2015 Quyển số 1) -Lưu hồ sơ vụ án.
Vũ Văn Kha
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND H.Sơn Hòa; - VKSND tỉnh PY; - Chi cục THADS H.Sơn Hòa; - TAND tỉnh Phú Yên; -UBND xã Sơn Hội, H. Sơn Hòa; (GCNKH số 55/2011) - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Kha |