vanban.org

Bản án 12/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho ông Đàm Văn L được ly hôn với bà Nguyễn Thị H.

Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân gia đình cho ông Đàm Văn L. Thông báo quyền kháng cáo: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ông Đàm Văn L yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho ông Đàm Văn L được ly hôn với bà Nguyễn Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M’ĐRẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 12/2023/HNGĐ-ST
Ngày 16 – 8 - 2023
“V/v: Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M’ĐRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Y Đo Niê, Bà Bùi Thị Thêm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Linh Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Y Gon Niê - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2023 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 44/2023/TLST-HNGĐ ngày 05/4/2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Đàm Văn L, sinh năm 1956. Địa chỉ: Tổ dân phố 9, thị trấn M, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Ông L vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1972. Địa chỉ: Tổ dân phố 9, thị trấn M’Đrắk, huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk. Bà H có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đàm Thị H1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn 7, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Bà H1 có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Đàm Văn L, trình bày:

Ông Đàm Văn L và bà Nguyễn Thị H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M’Đrắk ngày 15/5/2019. Việc kết hôn là tự nguyện. Quá trình chung sống do bất đồng quan điểm, tính cách, lối sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do kể từ khi ông L bị tai biến, liệt nửa người vào năm 2019, bà H không chăm sóc được cho ông L dẫn đến tình cảm vợ chồng sứt mẻ. Bản thân bà H cũng đã đề nghị ly hôn với ông L để giải thoát. Thấy bà H bỏ mặc không quan tâm, chăm sóc cho ông L, nên chị Đàm Thị H1 (con riêng của ông L1) đón về chăm sóc từ tháng 5/2021. Từ đó đến nay bà Hoa không thăm, hỏi han quan tâm gì đến ông L1 nữa. Tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên ông L yêu cầu tòa án giải quyết cho ông L được ly hôn với bà H.

Ông L và bà H không có con chung và tài sản chung nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà H chung sống với ông L từ khoảng năm 2016, đến năm 2019 mới đăng ký kết hôn. Sau khi đăng ký kết hôn, ông L bị tai biến liệt nửa người, bà H bỏ công việc vay mượn tiền để chạy chữa cho ông L. Quá trình điều trị tại nhà có lúc ông L mất trí nhớ có đánh đập bà H nhưng bà H vẫn yêu thương cố gắng chăm sóc cho ông L. Đến khi ông L đã tự đi lại sinh hoạt được thì bà Ha mới đi làm công việc buôn bán nên không thường xuyên có mặt ở nhà để chăm sóc được cho ông L. Từ tháng 5/2021 (âm lịch), chị H1 tự ý đón ông L về nuôi cho đến nay. Do có mâu thuẫn với các con riêng của ông L nên bà H không thăm hỏi và cấp dưỡng ông L. Bà H không đồng ý ly hôn với ông L vì vẫn còn yêu thương ông L và có nguyện vọng được chăm sóc cho ông L. L do yêu cầu ly hôn ghi trong đơn khởi kiện không đúng sự thật, không phải do ông L viết.

* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đàm Thị H1 trình bày:

Bà Hằng là con ruột của ông Đàm Văn L. Hiện nay bà H1 đang là người trực tiếp chăm sóc ông L. Ông L bị tai biến từ năm 2019. Quá trình ông L điều trị tai biến tại nhà, bà H không chăm sóc tốt cho ông L. Đồng thời bà Hoa có nhắn tin với bà H1 qua ứng dụng zalo, bà H nói đề nghị ly hôn với ông Lý vì không thể chăm sóc cho ông L được. Gia đình bà H1 vẫn thường xuyên về thăm ông Lý, thỉnh thoảng có đưa ông L về nhà chăm sóc mỗi lần khoảng vài ngày. Sau đó vì thấy đi lại khó khăn, không tốt cho sức khỏe của ông L, nên bà H1 đã đưa ông L về ở trên nhà bà H1 để cho tiện chăm sóc từ giữa năm 2021 cho đến nay. Bà H không hỏi thăm cấp dưỡng hay chăm sóc cho ông L. Hiện nay ông L chưa thể tự đi lại được, về trí nhớ và nhận thức bình thường. Việc ông L nộp đơn yêu cầu ly hôn là nguyện vọng của ông L. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án; xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự việc thu thập chứng cứ, trình tự giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử (HĐXX) tại phiên tòa: Thực hiện đúng các quy định theo Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật của Thư ký phiên tòa: Thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS)

- Việc chấp hành của các đương sự: Các đương sự chấp hành đúng theo quy định của pháp luật, đề nghị HĐXX tiếp tục tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung: Theo lời khai của các đương sự đều thể hiện nguyên đơn và bị đơn không còn chung sống với nhau từ tháng 5/2021 cho đến nay. Bản thân ông L bị tai biến liệt nửa người cần có sự chăm sóc, cấp dưỡng. Bà H là vợ ông L nhưng không trực tiếp chăm sóc, hỏi thăm cũng như cấp dưỡng cho ông Lý. Như vậy hôn nhân của nguyên đơn và bị đơn đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do yêu cầu của nguyên đơn có căn cứ, nên đề nghị HĐXX chấp nhận xử cho nguyên đơn ly hôn với bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết về việc ly hôn với bị đơn. Bị đơn hiện đang cư trú tại: Tổ dân phố 9, thị trấn M’Đrắk, huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk. Đây là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk theo khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 BLTTDS, Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hê ̣ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn là vợ chồng có đăng ký kết hôn hợp pháp. Kết quả xác minh tại địa phương và lời trình bày của các đương sự thể hiện: Nguyên đơn bị tai biến liệt nửa người từ năm 2019 (sau khi kết hôn). Đến thời điểm khởi kiện, nguyên đơn không thể đi lại được nhưng khả năng nhận thức tại thời điểm khởi kiện đủ năng lực hành vi dân sự. Bị đơn và nguyên đơn đã không còn sống chung từ tháng 5/2021 cho đến nay. Bị đơn không thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng, không thăm nom, hỏi han, chăm sóc và cấp dưỡng cho nguyên đơn từ tháng 5/2021 đến nay, vì cho rằng bị đơn có mâu thuẫn với các con riêng của nguyên đơn. Mặc dù các con riêng của nguyên đơn không ngăn cản bị đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng là thực tế, đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ, theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình (HN &GĐ) nên HĐXX cần chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000đồng tiền án phí Dân sự sơ thẩm (DSST) về Hôn nhân và gia đình. Nguyên đơn thuộc hộ nghèo, có đơn đề nghị miễn nộp tiền án phí nên được miễn toàn bộ tiền án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, các Điều 220, 228, 238, 244, 266 và Điều 273 của BLTTDS;

Căn cứ Điều 56 Luật HN & GĐ;

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho ông Đàm Văn L được ly hôn với bà Nguyễn Thị H.

3. Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân gia đình cho ông Đàm Văn L.

4. Thông báo quyền kháng cáo:

- Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm trong hạn luâ ̣t đi ̣nh là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ