vanban.org

Bản án 12/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Q đối với chị N.

Về hôn nhân: Anh Q được ly hôn với chị N (chấm dứt hôn nhân). Về con chung: Giao cháu M– sinh ngày 01/01/2017 cho chị N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Anh Q được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, chịN không được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn và tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Q đối với chị N.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NÔ
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:12/2023/HNGĐ-ST
Ngày 18/8/2023
Về việc:“Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lại Hồng Duy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông NguyễnQ Châu và ông Phạm Đình Bông.

- Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Hường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thùy Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Nô xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2023/TLST-HNGĐ, ngày 29/3/2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 18/7/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 61/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 09/8/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Q, sinh năm 1989, có đơn xin vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông.

2. Bị đơn: Chị N, sinh năm 1990, vắng mặt.

Địa chỉ: Buôn E, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông.

Hiện đang công tác tại P huyện K, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn xin ly hôn, trong quá trình giải quyết vụ án anh Q trình bày: AnhQ và chị N kết hôn vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông vào ngày 20/9/2016. Hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và không bị ép buộc.

Anh Q và chị N có 01 con chung, cháu M- sinh ngày 01/01/2017, hiện cháu đang ở với chị N. Đến tháng 09/2023, cháu My vào học lớp 01.

Tài sản chung, tài sản riêng và công nợ: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Mẫu thuẫn dẫn đến ly hôn: Anh Q và chịN phát sinh mâu thuẫn trong gia đình, trong lối sống và sinh hoạt trong gia đình, hai vợ chồng có cách nghĩ, quan điểm sống trái ngược nhau, không có tiếng nói chung. Ngoài ra, chịN không tôn trọng bố mẹ đẻ anh Q, trong làm kinh tế thì chị N tự ý làm mọi việc và không tôn trọng anh Q, giả chữ ký anh Q để tham gia các giao dịch dân sự mà không hỏi ý kiến anh Q, anh Q hỏi lại thì phát sinh mâu thuẫn. Dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau, xung đột trong gia đình, vợ chồng không còn thương yêu, không quý trọng nhau, không chăm sóc, không giúp đỡ nhau, chỉ biết bổn phận của riêng mình, bỏ mặc nhau. AnhQ và chị N đã sống ly thân từ cuối năm 2020 cho đến nay. Hiện tại hai người sống hai nơi khác nhau và không còn liên lạc với nhau.

Nay anh Q xin được ly hôn với chị N. Con chung: Anh Q đồng ý giao cháu M cho chị N được quyền nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Q đồng ý cấp dưỡng số tiền 2.000.000 đồng/tháng (hai triệu đồng/tháng) để nuôi cháu M đến đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, tài sản riêng và công nợ: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

- Bị đơn chị N: Tòa án nhân dân huyện Krông Nô đã tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cho chị N, nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Chị N không có văn bản thể hiện quan điểm của mình về việc ly hôn và quyền được nuôi cháu M.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên toà kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án xác định người tiến hành tố tụng, nguyên đơn ở giai đoạn sơ thẩm đều tuân thủ quy định của pháp luật. Bị đơn chị N không chấp hành theo quy định của pháp luật, cố tình vắng mặt không có lý do, chị N tự tước quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận đơn khởi kiện và cho anh Q được ly hôn với chị N (chấm dứt hôn nhân). Giao cháu M-sinh ngày 01/01/2017 cho chị N trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng; anh Q có nghĩa vụ cập dưỡng nuôi cháu M với số tiền 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi. Tài sản chung, tài sản riêng và công nợ, nguyên đơn không yêu cầu giải quyết. Buộc anh Q chịu án phí 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án xin ly hôn giữa nguyên đơn anh Q và chị N. Bị đơn chị N có đăng ký thường trú tại Buôn E, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông (hiện đang công tác tại P huyện Krông Nô). Nên Tòa án nhân dân huyện Krông Nô thụ lý là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn chị N: Tòa án nhân dân huyện Krông Nô đã trực tiếp tống đạt các văn bản tố tụng trong vụ án theo quy định pháp luật đối với chị N, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Việc vắng mặt của chị N không có lý do nên Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt là đúng theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, tiến hành xét xử vắng mặt chị N là đúng quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa chị N đều vắng mặt không có lý do, đồng thời không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng như đưa ra quan điểm để phán bác lại yêu cầu của nguyên đơn. Theo khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Như vậy, chị N phải chịu hậu quả về việc không đưa ra được chứng cứ để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Về hôn nhân: Chị N và anh Q xây dựng gia đình trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, tự do đi đến hôn nhân. Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông vào ngày 20/9/2016 và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 33. Do đó, hôn nhân giữa anh Q và chị N là hợp pháp.

Về mâu thuẫn dẫn đến ly hôn: Anh Q và chị N có những mâu thuẫn trong gia đình, trong lối sống và sinh hoạt trong gia đình, hai vợ chồng có cách nghĩ, quan điểm sống trái ngược nhau, không có tiếng nói chung. Dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau, xung đột trong gia đình, vợ chồng không còn thương yêu, không quý trọng nhau, bỏ mặc nhau. Từ đó, anh Q và chị N đã sống ly thân từ cuối năm 2020 cho đến nay, hai người sống hai nơi khác nhau và không còn liên lạc với nhau. Qua xác minh, anh Q và chị N sinh sống tại thôn T, huyện K được ba năm, sau đó chị N không còn sinh sống tại thôn T nữa và không biết sinh sống tại đâu.

Như vậy, mâu thuẫn giữa anh Q và chị N đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn thương yêu, không quan tâm, hạnh phúc gia đình không có. Do đó, để giải phóng cho hôn nhân không còn mục đích, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn và cho anh Q được ly hôn với chị N.

Con chung: Hiện tại cháu M– sinh ngày 01/01/2017 đang sinh sống cùng với chị N. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị N vắng mặt và không đưa ra quan điểm về việc nuôi con sau khi ly hôn. TuyNên, anh Q có nguyện vọng để cho chị N nuôi cháu M, hiện anh Q đang đi làm xa nên không có thời gian chăm cháu M được. Nên Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu M cho chị N nuôi dưỡng là phù hợp.

Cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị N vắng mặt và không đưa ra quan điểm về cấp dưỡng nuôi con chung. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết, anh Q đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu M với số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng)/tháng cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi. Nên Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận việc anh Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu M là phù hợp.

Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi mức cấp dưỡng, chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đối với các con theo quy định Luật hôn nhân và gia đình.

Tài sản chung, tài sản riêng và công nợ, nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Q phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử cấn chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 94; Điều 144; Điều 147; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Q đối với chị N.

1. Về hôn nhân: Anh Q được ly hôn với chị N (chấm dứt hôn nhân).

2. Về con chung: Giao cháu M– sinh ngày 01/01/2017 cho chị N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Anh Q được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, chịN không được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm nom, giáo dục con chung của anh Q.

Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Q có nghĩa vụ cấp dưỡng số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng)/tháng để nuôi cháu M– sinh ngày 01/01/2017 cho đến khi cháu My đủ 18 tuổi.

Thời gian bắt đầu thực hiện cấp dưỡng kể từ ngày bản án này có hiệu lực

pháp luật. Thực hiện vào ngày đầu tiên của tháng.

Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định: Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, thay đổi mức cấp dưỡng, chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại các Điều 84, 107, 110,116 của Luật hôn nhân và gia đình.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Q phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 007251 ngày 29/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông, anh Q phải nộp thêm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ