- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, con chung giữa NĐ: Nguyễn Thị Thanh D ;BĐ: Chu Văn L"
- Căn cứ chính? Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30-6-2023 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Trúc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Thế Chiến;
2. Ông Vũ Kim Quy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Lợi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tham gia phiên toà: Bà H Đơk Thị Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Ana xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 227/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/5/2023, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh D, sinh năm 1986, vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Anh Chu Văn L, sinh năm 1982, vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn - Chị Nguyễn Thị Thanh D trình bày:
Chị D và anh Chu Văn L tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 03/3/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến thời gian gần đây thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình, quan điểm sống bất đồng; vợ chồng thường xảy ra cãi vã , xung đột, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không khắc phục được. Đến nay chị D thấy đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì để ổn định cuộc sống riêng tư cho mỗi người, chị D yêu cầu Toà án giải quyết cho chị D được ly hôn anh L.
Về con chung: Quá trình chung sống, chị D và anh L có 02 con chung là Chu Nhật H, sinh ngày 28/3/2012 và Chu Tiểu V, sinh ngày 13/5/2020.
Khi ly hôn chị D có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Chu Tiểu V và đồng ý giao cháu Chu Nhật H cho anh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi thành niên (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Không bên nào phải cấp dưỡng cho bên nào.
Về tài sản chung: Tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết
Về công nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn - Anh Chu Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc. Do đó không thể tiến hành lấy lời khai cũng như tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, về thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định đưa vụ án ra xét xử, gửi thông báo thụ lý vụ án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình; bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các Điều 56; 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh D, cho chị D được ly hôn anh Chu Văn L.
- Về con chung: Giao con chung cháu Chu Nhật H, sinh ngày 28/3/2012 cho anh Chu Văn L và giao cháu Chu Tiểu V, sinh ngày 13/5/2020 cho chị Nguyễn Thị Thanh D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi), không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào.
- Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết
-Về công nợ chung: Đương sự xác định không có nên không đề cập giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tu ̣c tố tu ̣ng : Yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh D là tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Ana theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đảm bảo đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về nội dung: Chị Nguyễn Thị Thanh D và anh Chu Văn L tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 03/3/2012. Xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Quá trình duy trì hôn nhân giữa chị D và anh L phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra cãi vã, mâu thuẫn vợ chồng xảy ra và ngày càng trầm trọng không khắc phục được, năm 2019 chị D đã làm đơn xin ly hôn anh L nhưng sau đó đã rút đơn về đoàn tụ. Tuy nhiên, đến nay vợ chồng vẫn không giải quyết được mâu thuẫn mà ngày càng trầm trọng. Qua kết quả xác minh tại chính quyền địa phương cung cấp, chị D và anh L hiện đang cư trú tại thôn T, xã E. Quá trình sinh sống tại địa phương giữa chị D và anh L có xảy ra mâu thuẫn nhưng do chị D và anh L không yêu cầu địa phương hoà giải nên nguyên nhân, mức độ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh L như thế nào thì địa phương cũng không nắm rõ. Về phía anh L đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh L không có ý kiến phản đối gì.
Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Thanh D và anh Chu Văn L đã xảy ra, kéo dài và ở mức trầm trọng nhưng vợ chồng vẫn không có biện pháp gì giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn anh L của chị D là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị D và anh L có 02 con chung là Chu Nhật H, sinh ngày 28/3/2012 và Chu Tiểu V, sinh ngày 13/5/2020. Chị D làm kinh doanh Spa, anh L làm kinh doanh dịch vụ vận tải nên cả anh L và chị D đều có đủ điều kiện đảm bảo để nuôi các con chung; Nguyên vọng của chị D khi ly hôn được quyền nuôi dưỡng cháu V, còn cháu H hiện đang do anh L nuôi dưỡng và cháu cũng có nguyện vọng được ở với bố. Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo ổn định cuộc sống cho các cháu nên cần giao cháu Chu Nhật H, sinh ngày 28/3/2012 cho anh L và giao cháu Chu Tiểu V, sinh ngày 13/5/2020 cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi); không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào, là phù hợp theo quy định tại Điều 2; khoản 1, khoản 3 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Đương sự tự thỏa thuận không yêu cầu Toà án giải quyết
Về công nợ chung: Đương sự xác định không có công nợ chung nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh D phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng Dân sự;
-Căn cứ: Điều 2; Khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ: Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.Về hôn nhân:
Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thanh D và anh Chu Văn L.
2.Về con chung:
2.1. Giao con chung cháu Chu Nhật H, sinh ngày 28/3/2012 cho anh Chu Văn L và giao cháu Chu Tiểu V, sinh ngày 13/5/2020 cho chị Nguyễn Thị Thanh D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi).
2.2. Chị Nguyễn Thị Thanh D và anh Chu Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Đương sự tự thoả thuận, không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
4. Về công nợ: Đương sự xác định không có công nợ nên không đặt ra giải quyết.
5.Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh D phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị D đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo biên lai thu số AA/2021/0015263 ngày 06 tháng 12 năm 2022.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Ana; - CCTHADS huyện K; - Các đương sự; - UBND xã E; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lƣơng Thị Trúc |