vanban.org

Bản án 12/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Như T.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Như T và anh Lê Văn Đ là vợ chồng. Về con chung: Buộc chị Nguyễn Như T có nghĩa vụ giao cháu Lê Thị Đầm, sinh ngày 13/11/2005 cho anh Lê Văn Đ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị T không phải cấp dưỡng cho cháu Đầm nhưng chị được quyền tới lui thăm nom… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn chị Nguyễn Như T và bị đơn anh Lê Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Như T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 14/03/2023.
V/v tranh chấp xin ly hôn và nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kiệt

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lại Thiện Phong

Ông Nguyễn Thành Đến

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Kim Phương - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Kha – Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 03 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 297/2022/TLST – HNGĐ, ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc tranh chấp xin ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐXXST – HNGĐ, ngày 17 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Như T, sinh năm 1981 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp NT, xã NQ, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

2. Bị đơn: Anh Lê Văn Đ, sinh năm 1979 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp NT, xã NQ, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 18/10/2022, tại bảng tự khai ngày 12/12/2022 và tại phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn chị Nguyễn Như T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Đ có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc vào khoảng năm 2000 nhưng đến nay không có tiến hành đăng ký kết hôn. Trong thời gian đầu, vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc, nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chồng chị không chung thủy, hai bên gia đình có hàn gắn nhưng không thành và hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau khoảng 01 năm nay. Nay chị nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn Đ.

Về quan hệ con chung: Trong thời gian chung sống, chị T xác định giữa chị và anh Đ có 02 người con chung là cháu Lê Văn Đạm, sinh năm 2001 và cháu Lê Thị Đầm, sinh ngày 13/11/2005. Hiện tại cháu Đạm đã lớn và đã trưởng thành, còn cháu Đầm thì đang sống chung với chị T. Chị T xác định tùy theo nguyện vọng của cháu Đầm muốn theo ai thì người đó nuôi và người còn lại không phải cấp dưỡng cho con; Còn cháu Đạm đã lớn nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra, chị không có yêu cầu gì khác.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 30/12/2022 và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị đơn anh Lê Văn Đ trình bày:

Về hôn nhân: Anh Đ và chị T có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc vào khoảng năm 2000 nhưng đến nay không có tiến hành đăng ký kết hôn. Trong thời gian đầu, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc. Nhưng được một thời gian, thì xảy ra mâu thuẩn, vợ chồng anh có xảy ra cự cải do anh có người phụ nữ khác nhưng nay đã kết thúc và hiện tại hai vợ chồng tôi đã sống ly thân với nhau khoảng 01 năm nay. Nay vợ anh yêu cầu ly hôn với anh thì anh không đồng ý, anh muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Anh Đ xác định giữa anh và chị T có 02 người con chung là cháu Lê Văn Đạm, sinh năm 2001 và cháu Lê Thị Đầm, sinh ngày 13/11/2005. Hiện tại cháu Đạm đã lớn và đã trưởng thành, còn cháu Đầm thì đang sống chung với chị T. Anh Đ xác định tùy theo nguyện vọng của cháu Đầm muốn theo ai thì người đó nuôi và người còn lại không phải cấp dưỡng cho con; Còn cháu Đạm đã lớn nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Đ xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, anh không có yêu cầu gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi tham gia tố tụng cho đến nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị T và anh Đ là vợ chồng.

2. Về quan hệ con chung: Buộc chị T giao cháu Lê Thị Đầm, sinh ngày 13/11/2005 cho anh Đ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết. Sau khi ly hôn, chị T được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản;

3. Về quan hệ tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Ngoài ra đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Như T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn Đ và yêu cầu giải quyết về con chung nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con” là đúng quy định.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Lê Văn Đ có nơi đăng ký thường trú tại ấp NT, xã NQ, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Như T yêu cầu xin ly hôn với anh Lê Văn Đ, Hội đồng xét xử xét thấy: chị T và anh Đ thừa nhận vào năm 2000, chị T và anh Đ có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc nhưng đến nay anh, chị chưa tiến hành đăng ký kết hôn. Nay chị T xin ly hôn với anh Đ. Tuy nhiên, theo Khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này mà chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Do đó, Hội đồng xét xử không công nhận chị Nguyễn Như T và anh Lê Văn Đ là vợ chồng.

Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống, chị T và anh Đ xác định giữa anh chị có 02 người con chung là cháu Lê Văn Đạm, sinh năm 2001 và cháu Lê Thị Đầm, sinh ngày 13/11/2005. Hiện tại cháu Đạm đã lớn và đã trưởng thành còn cháu Đầm thì đang sống chung với chị T. Khi ly hôn, chị Thưởng và anh Đ xác định tùy nguyện vọng cảu cháu Đầm muốn theo ai thì người đó nuôi và người còn lại không phải cấp dưỡng cho con.

Hội đồng xét xử xét thấy, tuy cháu Đầm hiện đang sống ổn định với chị T. Tuy nhiên, cháu Đầm lại có nguyện vọng được theo sống chung với chị T. Vì vậy Hội đồng xét xử buộc chị T giao cháu Lê Thị Đầm, sinh ngày 13/11/2005 cho anh Đ nuôi dưỡng. Anh Đ không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn, chị T được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

Về quan hệ tài sản: Chị T và anh Đ xác định giữa anh chị không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Nguyễn Như T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Như T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Như T và anh Lê Văn Đ là vợ chồng.

2. Về con chung: Buộc chị Nguyễn Như T có nghĩa vụ giao cháu Lê Thị Đầm, sinh ngày 13/11/2005 cho anh Lê Văn Đ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị T không phải cấp dưỡng cho cháu Đầm nhưng chị được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

3. Về tài sản chung: Nguyễn Như T và anh Lê Văn Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Như T phải nộp số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng chị T đã dự nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0006562 ngày 18/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay chuyển thu toàn bộ số tiền trên thành án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án./.

Cỡ chữ