- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Hôn nhân về tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HTN TỈNH BÌNH THUẬN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2023/HNGĐ-ST Ngày: 23/3/2023. Về việc: “Ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HTN, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Hoài Tân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông La Minh Công và ông Hoàng Văn Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Duy Khánh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân HTN tham gia phiên toà: Bà Phạm Viết Diệu Trâm - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân HTN xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 562/2022/TLST - HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Mang Thị Ái L - sinh năm 1998 (vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Lý Văn Th - sinh năm 1994 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Đội 4, thôn 1, xã HC, huyện HTN, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Mang Thị Ái L trình bày: bà và ông Lý Văn Th quen biết yêu thương nhau từ năm 2014, đến năm 2015 thì có con chung với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã HC, huyện HTN, tỉnh Bình Thuận vào ngày 25/5/2016. Sau khi kết hôn bà và ông Th sống hạnh phúc trong thời gian đầu, nhưng về sau thì bà và ông Th bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, gây gổ, cãi lộn và bất đồng trong cuộc sống. Nguyên nhân là do ông Th sau khi nhậu nhẹt xong thường xuyên chửi bới, cầm dao, cầm rựa đe dọa bà, gia đình phía vợ ông Th cũng coi không ra gì. Do vậy, cuộc sống hôn nhân không thể nào hàn gắn được nên bà và ông Th đã sống ly thân từ cuối năm 2021 đến nay, ông Th về sống ở nhà người chị họ. Bà có nhiều lần qua nhà để tìm cách nói chuyện nhưng không có kết quả khả quan. Để giải thoát cho nhau, nay bà làm đơn đề nghị xin được ly hôn với ông Lý Văn Th.
Về con chung: bà và ông Thi có 01 con chung tên Mang Thị Khã A (sinh ngày 09/9/2015), từ khi hai vợ chồng sống ly thân, cháu A ở với bà L. Nguyện vọng của bà sau khi ly hôn sẽ tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Mang Thị Khã A, bà L không yêu cầu ông Th cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu tòa án giải quyết.
Bà Mang Thị Ái L có làm đơn xin được xét xử vắng mặt vì ngày 23/3/2023 bà bận công việc không thể tham gia phiên tòa được.
Quá trình giải quyết vụ án (công khai chứng cứ, hòa giải) bị đơn là ông Lý Văn Th không đến Tòa án để trình bày mặc dù đã được tống đạt và triệu tập hợp lệ nhiều lần do vậy không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa ông Lý Văn Th đồng ý ly hôn với bà L do vợ chồng ông hiện nay 02 người đã sống ly thân, không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Về con chung: Ông và bà L có 01 con chung tên Mang Thị Khã A (sinh ngày 09/9/2015), từ khi hai vợ chồng sống ly thân, cháu A ở với bà L. Sau khi ly hôn ông đồng ý tiếp tục để bà L chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Mang Thị Khã A cho đến khi trưởng thành, ông không cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HTN phát biểu ý kiến:
Trong quá trình giải quyết Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện các thủ tục đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, thành phần Hội đồng xét xử đúng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Các đương sự thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Đề nghị Tòa án nhân dân HTN chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mang Thị Ái L, cho bà được ly hôn với ông Lý Văn Th.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét.
- Về con chung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà Mang Thị Ái L. Bà L không có yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị HĐXX không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Mang Thị Ái L nộp đơn xin ly hôn với ông Lý Văn Th (Cư trú tại: Đội 4, thôn 1, xã HC, huyện HTN, Bình Thuận), căn cứ theo quy định tại khoản 1 điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện HTN, tỉnh Bình Thuận.
Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn là bà Mang Thị Ái L đã có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Về yêu cầu khởi kiện:
về quan hệ hôn nhân: Với các tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình giải quyết vụ án đã thể hiện giữa nguyên đơn và bị đơn đã xảy ra nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong thời gian dài; hai bên đều thừa nhận giữa vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi vã, hiện nay hai bên đã không còn chung sống, mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Hơn thế nữa Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần triệu tập và tiến hành mở các phiên hòa giải nhưng ông Th đều vắng mặt, cho thấy ông Th cũng không có thiện chí hàn gắn tình cảm với bà L.
Tại phiên tòa ông Lý Văn Th khai 02 người hiện nay đã sống ly thân, tình cảm vợ chồng không còn, ông đồng ý ly hôn với bà Mang Thị Ái L.
Như vậy, có thể khẳng định rằng tình trạng hôn nhân giữa bà Mang Thị Ái L và ông Lý Văn Th đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Mang Thị Ái L.
Về con chung: xét thấy cháu Mang Thị Khã A (sinh ngày 09/9/2015) tại biên bản lấy lời khai ngày 31/01/2023 có nguyện vọng được ở với mẹ, hơn nữa tại phiên tòa ông Lý Văn Th cũng đồng ý về việc bà Linh yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Do đó căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con của bà Mang Thị Ái L.
Bà Mang Thị Ái L không yêu cầu ông Lý Văn Th cấp dưỡng nuôi con nên không buộc ông Lý Văn Th phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nghĩa vụ chung: không xem xét.
Về án phí: Bà Mang Thị Ái L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 1 điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, Điều 143, 144, Điều 227, 228 và Điều 266, 267 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Điều 56, 81, 82, 83, 84, 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mang Thị Ái L, bà Mang Thị Ái L được ly hôn với ông Lý Văn Th.
2. Về con chung: Giao cháu Mang Thị Khã A (sinh ngày 09/9/2015) cho bà Mang Thị Ái L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Lý Văn Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định cua pháp luật.
3. Về án phí: Bà Mang Thị Ái L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm dân sự đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0013540 ngày 06/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện HTN. Bà Mang Thị Ái L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/3/2023). Nguyên đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện HTN; - Chi cục THA dân sự huyện HTN; - Các đương sự; - UBND xã HC, huyện HTN; - Lưu: hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hoài Tân |