- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Ngọc P.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2023/HNGĐ-ST Ngày: 20-4-2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Trầm Thị Thanh T
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Đạt T
Ông Nguyễn Trần Đ
- Thư ký phiên tòa: Bà Liêng Thị Kim N – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải tham gia phiên Tòa: Ông Kim M - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 4 năm 2023 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2022/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 10 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thạch Ngọc P, sinh năm 1999 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn: Anh Mã Văn N, sinh năm 1996 (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp B (nay là ấp C), xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải chị Thạch Ngọc P trình bày: Vào năm 2019 chị và anh Mã Văn N quen biết với nhau tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn vào ngày 18-02-2019 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
Sau khi kết hôn anh N về sống bên vợ ở huyện C, quá trình chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do chồng không lo làm ăn, không lo cho vợ con, chị P đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng không đạt kết quả . Xét thấy đời sống chung không còn hạnh phúc, hiện tình cảm vợ chồng đã không thể hàn gắn chị và anh N đã ly thân từ tháng 5/2021 đến nay, hiện nay chị đã không còn tình cảm với anh N nên chị làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn với anh Mã Văn N.
Về con chung: có một người con chung tên Mã Thị Minh T, sinh ngày 22/5/2020 hiện đang sống với chị khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, tại đơn khởi kiện chị yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đồng đến khi con đủ 18 tuổi. Nhưng tại biên bản lấy lời khai ngày 17/02/2023 chị thay đổi nội dung đơn khởi kiện và không yêu cầu anh N cấp dưỡng.
Tài sản chung: không có nên không yêu cầu.
Nợ chung: không có nên không yêu cầu.
Tại phiên tòa hôm nay chị Ngọc P có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Mã Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh. Cha ruột anh N (ông Mã Văn Đ) là người trực tiếp nhận thông báo thụ lý vụ án và Thông báo về phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án và có thông báo cho anh biết việc chị P xin ly hôn, tranh chấp con chung với anh nhưng anh cho rằng bận việc công ty xin nghỉ khó khăn nên không đến Tòa án được. Tại biên bản xác minh chính quyền địa phương ấp B (nay đã sáp nhập thành ấp C), xã Đ xác nhận anh N và chị P từ lúc cưới nhau thì không sinh sống tại địa phương nên không rõ mâu thuẫn như thế nào. Tài sản chung và nợ chung thì không rõ.
Vị Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, nhận thấy việc thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền và quan hệ pháp luật, xác định đầy đủ và đúng tư cách của những người tham gia tố tụng; thu thập chứng cứ theo trình tự, thủ tục, quyết định đưa vụ án ra xét xử và gửi hồ sơ cho Viện Kiểm Sát nghiên cứu đúng thời hạn; cấp tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định tại các Điều 93, 94, 95, 96, 97, 109 và Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay, hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ về nguyên tắc cơ bản khi giải quyết vụ án, thành phần Hội đồng xét xử và thư ký tòa án không thuộc trường hợp phải từ chối hoặc bị thay đổi theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Theo các chứng cứ chị Thạch Ngọc P cho rằng quan hệ hôn nhân không hạnh phúc do anh N không lo làm ăn, không quan tâm chăm sóc vợ con chị đã tạo điều kiện cho anh thay đổi nhưng không có kết quả và nay chị đã không còn tình cảm với anh N do mục đích hôn nhân không đạt được nên chị nộp đơn xin ly hôn với anh N là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: có một người con chung tên Mã Thị Minh T, sinh ngày 22/5/2020 hiện đang sống với chị khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu anh N cấp dưỡng.
Tài sản chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Thạch Ngọc P phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến, yêu cầu của đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết: Xét thấy bị đơn anh Mã Văn N có đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại xã Đôn Xuân, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, đối chiếu quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Trà Vinh.
. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét thấy đơn khởi kiện của chị Thạch Ngọc P có nội dung yêu cầu ly hôn nên có quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về tố tụng: Do chị Ngọc P có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn. Anh N mặc dù đã được Tòa án trực tiếp tống đạt thông báo thụ lý vụ án và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho người thân nhận thay nhưng anh mặc nhiên không có động thái gì. Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vắng mặt không có lý do cho thấy anh không quan tâm đến vụ án căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt anh N.
. Về hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Thạch Ngọc P, thấy rằng chị P và anh N hai bên tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn ngày 18-02-2019 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, chung sống hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn do anh N không lo làm ăn, không chăm lo cuộc sống gia đình, chị P nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh không sửa đổi. Hiện tại chị cho rằng đã không còn tình cảm với anh từ nhận định trên thấy rằng tình trạng hôn nhân giữa chị P và anh N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị P.
. Về con chung: có một người con chung tên Mã Thị Minh T, sinh ngày 22/5/2020 hiện đang sống với chị, nay ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh N cấp dưỡng. Xét thấy từ khi ly thân tháng 5/2021 đến nay cháu Minh T đã ở với mẹ nghĩ nên giao cháu T cho chị P được tiếp tục chăm sóc, giáo dục để ổn định việc học tập và sinh hoạt của cháu là phù hợp.
. Về tài sản chung và nợ chung chị P trình bày không có không yêu cầu Tòa án giải quyết nhưng anh N không có lời khai về việc này nên sẽ giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự khi anh Mã Văn N có yêu cầu.
. Về án phí: Chị Thạch Ngọc P phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 19, 51, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thạch Ngọc P.
Về quan hệ hôn nhân: cho chị Thạch Ngọc Phượng được ly hôn anh Mã Văn Nhánh.
Về con chung: Giao cho chị Thạch Ngọc P được nuôi dưỡng cháu Mã Thị Minh T, sinh ngày 22/5/2020.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị Thạch Ngọc P không yêu cầu anh Mã Văn N cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Không bên nào được ngăn cản việc trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn.
Vì lợi ích của con chưa thành niên khi cần thiết và có yêu cầu của các bên Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: chị Thạch Ngọc P khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Mã Văn N được quyền khởi kiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự khi có yêu cầu.
Về án phí: Buộc chị Thạch Ngọc P phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0009578 ngày 21 tháng 9 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Trà Vinh.
Án sơ thẩm các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Trà Vinh; -VKSND huyện Duyên Hải; -CCTHADS huyện Duyên Hải; - UBND xã Đôn Xuân, -Các đương sự; -Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trầm Thị Thanh T |