- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình sơ thẩm"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị Kim Y.
- Căn cứ chính? Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BUÔN ĐÔN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2023/HNGĐ-ST Ngày: 18/7/2023 “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BUÔN ĐÔN – TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Phi Long
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nông Thị Hảo
2/ Ông Nguyễn Lam Điền
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Thanh Thủy – Thư ký Toà án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Y Rin Niê Kdăm – Kiểm sát viên.
Ngày 18/7/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 73/2023/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 4 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/6/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2023/QĐST-DS ngày 11/7/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Kim Y, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Buôn Jang P, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Buôn Jang P, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Bùi Thị Kim Y trình bày: Chị Bùi Thị Kim Y và anh Nguyễn Hữu T kết hôn trên cơ sở tình yêu tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện B vào ngày 28/3/2011. Sau khi về chung sống vợ chồng sống hạnh phúc và có 03 (ba) con chung. Tuy nhiên, đến khoảng năm 2021 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng sống không hợp nhau, không cùng quan điểm sống, không có sự tôn trọng với nhau, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị Bùi Thị Kim Y yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Nguyễn Hữu T.
Về con chung: Chị Bùi Thị Kim Y và anh Nguyễn Hữu T có 03 (ba) con chung: Cháu Nguyễn Thị Như Y, sinh ngày 10/11/2011; Cháu Nguyễn Thị Kiều O, sinh ngày 01/12/2016; Cháu Nguyễn Hữu Phúc T, sinh ngày 10/02/2022.
Chị Bùi Thị Kim Y có nguyện vọng nhận nuôi các cháu Nguyễn Thị Như Y, cháu Nguyễn Thị Kiều O, cháu Nguyễn Hữu Phúc T đến khi các cháu thành niên (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Bùi Thị Kim Y không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Bùi Thị Kim Y không yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Hữu T trình bày: Anh Nguyễn Hữu T đồng ý với ý kiến trình bày của chị Bùi Thị Kim Y về quan hệ hôn nhân và con chung. Tuy nhiên, về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng thì trong cuộc sống gia đình chỉ có những mâu thuẫn nhỏ nhặt. Vợ chồng tuổi còn trẻ nên sống chưa hiểu nhau nên xảy ra mâu thuẫn. Hiện nay anh Nguyễn Hữu T rất yêu thương vợ và các con. Hàng ngày anh Nguyễn Hữu T đi làm và đưa tiền về cho chị Yến để lo cho các con. Vì vậy, anh Nguyễn Hữu T muốn vợ chồng cùng nhau chăm sóc, lo cho cuộc sống gia đình và không đồng ý ly hôn với chị Yến.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Do không đồng ý ly hôn nên anh Nguyễn Hữu T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của chị Bùi Thị Kim Y và anh Nguyễn Hữu T. Qua xác minh, đại diện chính quyền địa phương và Chi hội phụ nữ của buôn cung cấp thông tin: Quá trình chung sống vợ chồng chị Bùi Thị Kim Y và anh Nguyễn Hữu T có mâu thuẫn với nhau. Hiện nay chị Yến và anh Tiếp đã sống ly thân. Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn đã tiến hành công khai chứng cứ và hòa giải, phân tích các quy định của pháp luật nhưng chị Bùi Thị Kim Y vẫn nhất quyết xin được ly hôn với anh Nguyễn Hữu T nên hoà giải không thành. Do đó căn cứ Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn đưa vụ án ra xét xử.
- Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với bị đơn anh Nguyễn Hữu T vắng mặt là vi phạm về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 70, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 55, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Kim Y.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Kim Y được ly hôn với anh Nguyễn Hữu T.
Về con chung: Đề nghị giao cháu Nguyễn Thị Như Y, sinh ngày 10/11/2011; Cháu Nguyễn Thị Kiều O, sinh ngày 01/12/2016; Cháu Nguyễn Hữu Phúc T, sinh ngày 10/02/2022 cho chị Bùi Thị Kim Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi các cháu thành niên (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Bùi Thị Kim Y không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu phân chia tài sản chung và nợ chung không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí: Chị Bùi Thị Kim Y phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định về nội dung vụ án như sau:
Về tố tụng: Toà án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Hữu T cư trú tại buôn Jang P, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn anh Nguyễn Hữu T. Tuy nhiên, bị đơn anh Nguyễn Hữu T vắng mặt lần thứ hai. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Kim Y và anh Nguyễn Hữu T đăng ký kết hôn tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện B vào ngày 28/3/2011. Quá trình chung sống giữa chị Bùi Thị Kim Y và anh Nguyễn Hữu T phát sinh nhiều mâu thuẫn và bất đồng quan điểm. Năm 2022 chị Bùi Thị Kim Y làm đơn khởi kiện và yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Nguyễn Hữu T. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án chị Y suy nghĩ về gia đình và các con nên đã làm đơn và rút yêu cầu khởi kiện không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, sau khi về chung sống chị Y và anh T tiếp tục xảy ra mâu thuẫn. Được gia đình hai bên khuyên can và hòa giải nhưng không thành. Hiện nay chị Bùi Thị Kim Y và anh Nguyễn Hữu T sống ly thân và không quan tâm và chăm sóc gì nhau. Căn cứ kết quả xác minh cũng như ý kiến trình bày của đương sự có đủ cơ sở để xác định tình trạng hôn nhân giữa chị Bùi Thị Kim Y và anh Nguyễn Hữu T đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung của vợ chồng không thể kéo dài. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Bùi Thị Kim Y được ly hôn với anh Nguyễn Hữu T.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị Bùi Thị Kim Y và anh Nguyễn Hữu T có 03 (ba) con chung: Cháu Nguyễn Thị Như Y, sinh ngày 10/11/2011; Cháu Nguyễn Thị Kiều O, sinh ngày 01/12/2016; Cháu Nguyễn Hữu Phúc T, sinh ngày 10/02/2022.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/4/2023, cháu Nguyễn Thị Như Y trình bày có nguyện vọng muốn ở cùng với chị Bùi Thị Kim Y để thuận lợi trong việc học tập và sinh hoạt hằng ngày.
Tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Hội đồng xét xử xét thấy: Qua xác minh tại địa phương và phần trình bày của đương sự thì hiện nay các cháu Nguyễn Thị Như Y, Nguyễn Thị Kiều O, Nguyễn Hữu Phúc T đang sinh sống cùng với chị Bùi Thị Kim Y tại buôn Jang P, xã E, huyện B.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn anh Nguyễn Hữu T. Tuy nhiên, anh Nguyễn Hữu T đang sinh sống tại địa phương nhưng cố tình vắng mặt. Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Bùi Thị Kim Y có nguyện vọng nhận nuôi các cháu Nguyễn Thị Như Y, Nguyễn Thị Kiều O, Nguyễn Hữu Phúc T đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 81, khoản 1, khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận giao các cháu Nguyễn Thị Như Y, Nguyễn Thị Kiều O, Nguyễn Hữu Phúc T cho chị Bùi Thị Kim Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi các cháu thành niên (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Bùi Thị Kim Y không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu phân chia tài sản chung và nợ chung không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn chị Bùi Thị Kim Y phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk tại phiên tòa là có căn cứ và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 55, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị Kim Y.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Kim Y được ly hôn với anh Nguyễn Hữu T.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Như Y, sinh ngày 10/11/2011; Cháu Nguyễn Thị Kiều O, sinh ngày 01/12/2016; Cháu Nguyễn Hữu Phúc T, sinh ngày 10/02/2022 cho chị Bùi Thị Kim Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi các cháu thành niên (đủ 18 tuổi).
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Bùi Thị Kim Y không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu phân chia tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Chị Bùi Thị Kim Y phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0019308 ngày 10 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Bùi Thị Kim Y có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Nguyễn Hữu T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Buôn Đôn; - Chi cục THADS huyện Buôn Đôn; - UBND xã Ea Huar, huyện Buôn Đôn; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | (Đã ký) Nguyễn Phi Long |