vanban.org

Bản án 12/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Ngô Thị C và anh Bùi Văn N là vợ chồng. Về con chung: Chị Ngô Thị C và anh Bùi Văn N xác định có 03 con chung là Bùi Văn N1, sinh năm 1994; Bùi Thị M, sinh năm 1995; Bùi Văn Đ, sinh năm 2004. Hiện 03 con chung đã trưởng thành, tự lao động được không yêu cầu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa Ngô Thị C và Bùi Văn N"
  • Tòa quyết gì? Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A
TỈNH K

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 02/3/2023
V/v tranh chấp "Ly hôn"

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH K

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

* Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Ngọc Giàu

* Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lƣu Văn Bình

2. Bà Đoàn Thị Huệ

* Thư ký phiên tòa: Ông Cao Vũ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh K: Ông Trần Văn Ý – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 3 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 209/2022/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Ngô Thị C, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Ấp N, xã Đ, huyện A, tỉnh K.

* Bị đơn: Anh Bùi Văn N, sinh năm 1974.

Địa chỉ: Ấp N, xã Đ, huyện A, tỉnh K.

(Chị C; Anh N có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, các ý kiến và yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Ngô Thị C trình bày:

Vào năm 1993 chị chung sống với anh Bùi Văn N, không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng không hòa hợp nhau về suy nghĩ, tính cách, không tiếng nói chung, anh N thường xuyên ăn nhậu về nhà kiếm chuyện ghen tuông vô cớ, chị trả lời thì bị anh đánh đập không nương tay. Trước đây vì thấy các con còn nhỏ nên chị cố gắng chịu đựng, nhiều lần chị bỏ nhà đi hy vọng anh N sửa đổi nhưng qua nhiều lần hàn gắn không có kết quả, mâu thuẫn ngày càng phát sinh nhiều thêm, chị và anh N ly thân từ tháng 7 năm 2022 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Bùi Văn N.

Về con chung có 03 con chung là Bùi Văn N1, sinh năm 1994; Bùi Thị M, sinh năm 1995; Bùi Văn Đ, sinh năm 2004. Hiện các con chung đã trưởng thành và tự lao động được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại i n n ghi l i hai ngày 16 h ng 01 năm 2023 và c c ý iến rong qu rình gi i quyế vụ n, bị đơn anh Bùi Văn N có ý iến rình ày:

Do quen biết anh và chị C tiến tới vợ chồng vào năm 1993, không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống cũng có phát sinh cự cãi nguyên nhân là do không hợp tính cách, không tiếng nói chung. Anh cũng đã nhận lỗi nhưng chị C không cho cơ hội hàn gắn sửa đổi. Anh và chị C ly thân từ tháng 7 năm 2022 đến nay.

Về con chung có 03 con chung là Bùi Văn N1, sinh năm 1994; Bùi Thị M, sinh năm 1995; Bùi Văn Đ, sinh năm 2004.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh xác định giữa anh và chị C không tranh chấp.

Nay chị C yêu cầu ly hôn với anh, anh đồng ý. Hiện các con chung đã trưởng thành và tự lao động được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Chị C, anh N: Có đơn xin yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Người tham gia tố tụng đã chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị C và anh Bùi Văn N xác định xác lập quan hệ vợ chồng năm 1993, nhưng không có đăng ký kết hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận chị Ngô Thị C và anh Bùi Văn N là vợ chồng. Chị C và anh N xác định có 03 con chung Bùi Văn N1, sinh năm 1994; Bùi Thị M, sinh năm 1995; Bùi Văn Đ, sinh năm 2004. Hiện 03 con chung đã trưởng thành tự lao động được không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ngô Thị C và anh Bùi Văn N xác định không tranh chấp nên không đặt ra xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Ngô Thị C và anh Bùi Văn N có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh, chị trong vụ án này.

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Ngô Thị C và anh Bùi Văn N thống nhất trình bày hai anh, chị tiến đến hôn nhân vào năm 1993, không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng không hợp tính cách, không tiếng nói chung nên phát sinh mâu thuẫn. Nhận thấy cuộc hôn nhân anh, chị không tháo gỡ được nên yêu cầu xin ly hôn.

Căn cứ vào lời trình bày của các bên và kết quả của việc xác minh thu thập chứng cứ. Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân của chị C và anh N đã thật sự trầm trọng, theo chị C xác định qua nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả, mâu thuẫn ngày càng phát sinh nhiều thêm. Anh N thì xác định cũng đã nhận lỗi nhưng chị C không cho cơ hội hàn gắn sửa đổi. Anh chị xác định đã ly thân từ tháng 7 năm 2022 đến nay. Nay chị C yêu cầu ly hôn với anh N, thì anh N cũng đồng ý. Do anh, chị có đủ điều kiện để đăng ký kết hôn, nhưng không đi đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký theo quy định. Nay có tranh chấp xin ly hôn nên trường hợp này pháp luật quy định chị C và anh N không được công nhận là vợ chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Ngô Thị C và anh Bùi Văn N xác định có 03 con chung là Bùi Văn N1, sinh năm 1994; Bùi Thị M, sinh năm 1995; Bùi Văn Đ, sinh năm 2004. Hiện 03 con chung đã trưởng thành, tự lao động được không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị C và anh N xác định tự thoả thuận không có tranh chấp nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xét đề nghị của Vị Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các Điều 147, 227, 228, 238, 271, 273, 278, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 9, 14, 15, 51, 53 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Các Điều 24; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Xử:

1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Ngô Thị C và anh Bùi Văn N là vợ chồng.

2. Về con chung: Chị Ngô Thị C và anh Bùi Văn N xác định có 03 con chung là Bùi Văn N1, sinh năm 1994; Bùi Thị M, sinh năm 1995; Bùi Văn Đ, sinh năm 2004. Hiện 03 con chung đã trưởng thành, tự lao động được không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị C và anh N xác định tự thoả thuận không có tranh chấp nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Ngô Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị C đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001021 ngày 21 tháng 11 năm 2022 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện A nên được cấn trừ xem như chị C đã thi hành xong phần án phí.

5. Chị Ngô Thị C, anh Bùi Văn N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh K xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ