vanban.org

Bản án 12/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản

TAND huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau Tuyên án 25/08/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu C khởi kiện của ông Bùi Hoàng T đối với bà Cao Thị L và ông Nguyễn Văn C. Buộc bà Cao Thị L và ông Nguyễn Văn C phải L đới trả cho ông Bùi Hoàng T số tiền 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản — án dân sự — "Tranh chấp đòi lại tài sản"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

,
Bản án số: 12/2023/HNGĐ-ST
Ngày 06 tháng 3 năm 2023
“V/v tranh chấp đòi lại tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Mầm

Ông Võ Tấn Liêm

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước.

Ngày 06 tháng 3 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 334/2022/TLST-DS, ngày 13 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp “Tranh chấp đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXX-ST, ngày 05 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Bùi Hoàng T, sinh năm 1964 (Có mặt)

- Bị đơn: Bà Cao Thị L, sinh năm 1967 (Vắng mặt)

Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1966 (Vắng mặt)

Cùng địa ch : Ấp T, xã H, huyện Cái Nước, t nh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10.10.2022 và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn ông Bùi Hoàng T trình bày: Vào năm 2014 âm lịch ông có nhiều lần bán gạo và thức ăn cho bà Cao Thị L và ông Nguyễn Văn C, đồng thời bà L ông C cũng mượn ông tiền để trị bệnh. Tổng số tiền bà L và ông C thiếu nợ ông là 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng). Đến ngày 09/02/2021 dương lịch do bà L và ông C không trả tiền cho ông nên ông yêu C bà L, ông C trả lại thì bà L có làm giấy nợ nhưng cho đến nay bà L và ông C vẫn không trả. Nay ông yêu C bà L và ông C trả số tiền nợ là 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng), không yêu C tính lãi.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo cho bà L và ông C biết về việc ông T yêu C trả số tiền còn nợ là 9.000.000 đồng nhưng bà L và ông C không có ý kiến gì. Tòa án đã tống đạt cho bà L và ông C thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ hai nhưng bà L và ông C không đến và cũng không có ý kiến gì về yêu C của ông T. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hòa giải giữa ông T và bà L, ông C được. Tòa án tiến hành triệu tập bà L và ông C để tham gia phiên tòa sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bà L và ông C vẫn vắng mặt không lý do nên Toà án xét xử vắng mặt bà L và ông C theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét quan hệ pháp luật tranh chấp giữa nguyên đơn là ông Bùi Hoàng T với bà Cao Thị L, ông Nguyễn Văn C từ khi thụ lý đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử được xác định là: “Tranh chấp đòi lại tài sản” được quy định tại Điều 166 Bộ luật Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật tố tụng Dân sự, bị đơn khi giao kết hợp đồng và tại thời điểm hiện tại đều có địa ch tại Ấp T, xã H, huyện Cái Nước, t nh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Cao Thị L và ông Nguyễn Văn C đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia hòa giải nhưng đều vắng mặt nên vụ án thuộc trường hợp không hòa giải được, do đó Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử. Các phiên tòa sơ thẩm mở vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 06/02/2023 và 07 giờ 30 phút ngày 06 tháng 3 năm 2023 mặc dù bị đơn bà Cao Thị L, ông Nguyễn Văn C đã được thông báo về thời gian và địa điểm xét xử nhưng đều vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét về nội dung tranh chấp: Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/10/2022 ông T yêu C bà L và ông C L đới trả lại cho ông số tiền mượn nợ để mua gạo và thức ăn và trị bệnh tổng cộng là 9.000.000 đồng, yêu C tính lãi theo quy định. Tại phiên tòa ông T thay đổi một phần yêu C khởi kiện, không yêu C tính lãi. Hội đồng xét xử thấy rằng, căn cứ theo giấy nợ ngày 09/02/2021 DL do ông T cung cấp có viết tên Cao Thị L thể hiện : “Hai vợ chồng em Nguyễn Văn C cùng vợ là Cao Thị L có mua gạo và hỏi tiền ăn sài và trị bệnh tổng số tiền là 9.000.000 đồng”. Như vậy có cơ sở xác định bà L có mượn tiền từ ông T với tổng số tiền là 9.000.000 đồng là thực tế có xảy ra và cho đến nay vẫn không trả là đã vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 274 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó yêu C khởi kiện của ông T đối với bà L ông C là phù hợp theo quy định của pháp luật.Tại phiên tòa ông T xác định ch yêu C bà L, ông C trả lại số tiền 9.000.000 đồng, không yêu C tính lãi, xét thấy đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, không trái với quy định của pháp luật do đó được chấp nhận.

Đối với việc ông T yêu C Tòa án buộc ông C có trách nhiệm L đới với bà L trả nợ cho ông. Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù bà Em trực tiếp làm biên giấy nợ nhưng việc việc mua gạo, thức ăn và trị bệnh là sử dụng mục đích sinh hoạt chung cho gia đình và khi mượn nợ của ông T thì bà L và ông C là vợ chồng. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu C của ông T, buộc bà L và ông C có trách nhiệm L đới trả số tiền còn thiếu là 9.000.000 đồng cho ông T.

Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, bà L và ông C đã biết việc ông T khởi kiện và biết các tài liệu chứng cứ mà ông T cung cấp cho Tòa án nhưng bà L và ông C không có ý kiến phản đối hay đưa ra tài liệu chứng cứ gì để chứng minh về việc đã trả số tiền vay cho ông T hay chưa, nên việc ông T khởi kiện yêu C Tòa án giải quyết là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà L và ông C phải chịu án là 450.000 đồng, ông T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điều 26; 35; 39; 147, 227, 244, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các Điều 166, 185, 357, 468 Bộ luật dân sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu C khởi kiện của ông Bùi Hoàng T đối với bà Cao Thị L và ông Nguyễn Văn C.

Buộc bà Cao Thị L và ông Nguyễn Văn C phải L đới trả cho ông Bùi Hoàng T số tiền 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng).

Kể từ ngày ông Bùi Hoàng T có đơn yêu C thi hành án, bà Cao Thị L và ông Nguyễn Văn C không thi hành khoản tiền nêu trên thì bà Cao Thị L và ông Nguyễn Văn C phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Cao Thị L và ông Nguyễn Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng), nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi án có hiệu lực pháp luật. Ông Bùi Hoàng T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Ông Bùi Hoàng T có dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0008596 ngày 21 – 11 – 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước được nhận lại khi án có hiệu lực.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu C thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, ông Bùi Hoàng T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Cao Thị L và ông Nguyễn Văn C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ