vanban.org

Bản án 12/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần N.

Buộc ông Thái Hoàng Ph và bà Huỳnh Thị D phải liên đới trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần N tổng số tiền là: 256.620.849đ (Hai trăm năm mươi sáu triệu, sáu trăm hai mươi nghìn, tám trăm bốn mươi chin đồng), trong đó nợ gốc là: 225.000.000đ; Nợ lãi trong hạn là 4.534.459đ; Nợ lãi quá hạn là 26.763.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng A khởi kiện ông Thái Hoàng Ph bà Huỳnh Thị D thu hồi nợ"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NINH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH NINH THUẬN
Bản án số: 12/2023/DS-ST.
Ngày: 08/6/2023.
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”;
“Tranh chấp hợp đồng thế chấp tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Cốc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Mai Thị Huyền Trang.

2. Ông Phạm Y.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đổng Mây Hồng Tuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 25/2023/TLST-DS, ngày 13 tháng 3 năm 2023 về việc tranh chấp: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và “Tranh chấp hợp đồng thế chấp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2023/QĐXXST-DS, ngày 04 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2023/QĐST-DS, ngày 19 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần N.

Địa chỉ: Số 201 – 203 Cách Mạng Tháng Tám, phường 4, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngô Phúc V – chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Gia H – Chức vụ: Nhân viên ngân hàng thương mại cổ phần N – chi nhánh Ninh Thuận (Có mặt).

Địa chỉ: Số 40 đường 16/4, phường Tấn Tài, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

(Các văn bản ủy quyền số: 01A, ngày 03/01/2023, số: 07A, ngày 03/01/2023 và số: 265 ngày 23/02/2023).

- Bị đơn:

1. Ông Thái Hoàng Ph, sinh năm: 1969 (Vắng mặt).

2. Bà Huỳnh Thị D, sinh năm: 1971 (Vắng mặt).

Cùng cư trú: Thôn Vạn Phước, xã Phước Thuận, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà ông Đinh Gia H trình bày:

Vợ chồng ông Thái Hoàng Ph và bà Huỳnh Thị D đã ký hợp đồng vay tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần N (Sau đây gọi tắt là “Ngân hàng”) theo “hợp đồng tín dụng” số: 1173/2021/414-TD-CV, ngày 06/10/2021; Số tiền vay là 230.000.000đ; Mục đích vay là mua đồ dùng trang thiết bị trong nhà; Lãi suất tại thời điểm cho vay là 11%/năm và được điều chỉnh theo quy định của ngân hàng nhà nước. Đối với lãi phạt thì hợp đồng quy định là 150% cho khoản nợ gốc, ngoài ra hợp đồng cũng quy lãi chậm trả là 10% trên năm trên số dư chậm trả tương ứng thời gian chậm trả.

Để bảo đảm cho khoản vay, vợ chồng ông Ph bà D đã thế chấp tài sản theo hợp đồng thế chấp số: 0929/2021/414-TD-BĐ, ngày 06/10/2021 đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 117, tờ bản đồ số 11a theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 24/02/2011 đứng tên ông Thái Hoàng Ph và bà Huỳnh Thị D.

Quá trình vay tín dụng thì ông Ph bà D đã trả nợ đến ngày 29/11/2022 thì ngưng, Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc vợ chồng ông Ph bà D trả nợ nhưng ông Ph bà D không thực hiện.

Tính đến ngày 11/4/2023 vợ chồng ông Ph bà D còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là: 250.220.486đ, trong đó nợ gốc là: 225.000.000đ; Nợ lãi trong hạn là 4.534.459đ; Nợ lãi quá hạn là 20.435.014đ; Phạt chậm trả là: 251.013đ.

Đối với phạt chậm trả được tính như sau: (10%) x (lãi trong hạn) x (số ngày chậm trả) : (365 ngày).

Tính đến xét xử là ngày 08/6/2023 vợ chồng ông Ph bà D còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là: 256.620.849đ, trong đó nợ gốc là: 225.000.000đ; Nợ lãi trong hạn là 4.534.459đ; Nợ lãi quá hạn là 26.763.370đ; Phạt chậm trả là: 323.020đ.

Nay ngân hàng khởi kiện ông Thái Hoàng Ph và bà Huỳnh Thị D yêu cầu cụ thể như sau:

1. Yêu cầu ông Thái Hoàng Ph và bà Huỳnh Thị D thanh toán tổng số nợ tính đến ngày 08/6/2023 là: 256.620.849đ, trong đó nợ gốc là: 225.000.000đ; Nợ lãi trong hạn là 4.534.459đ; Nợ lãi quá hạn là 26.763.370đ; Phạt chậm trả là: 323.020đ.

2. Yêu cầu ông Thái Hoàng Ph và bà Huỳnh Thị D thanh toán khoản lãi phát sinh của nợ gốc kể từ ngày 09/6/2023 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất trong hợp đồng tín dụng đã ký kết.

3. Yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp tài sản số: 0929/2021/414-TD-BĐ, ngày 06/10/2021 để bảo đảm thi hành án, trường hợp ông Phi bà Dư không thanh toán hoặc thanh toán không đủ thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn ông Thái Hoàng Ph và bà Huỳnh Thị D đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến Tòa án nên không có lời khai trong hồ sơ vụ án và cũng không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

- Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền của mình theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Thái Hoàng Ph và bà Huỳnh Thị D phải trả tiền nợ gốc, nợ lãi phát sinh từ Hợp đồng tín dụng đồng thời yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp tài sản để bảo đảm cho việc thi hành án. Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và “Tranh chấp hợp đồng thế chấp tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Thái Hoàng Ph và bà Huỳnh Thị D cùng có nơi cư trú tại thôn Vạn Phước, xã Phước Thuận, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

Về sự vắng mặt của bị đơn: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho bị đơn ông Thái Hoàng Ph và bà Huỳnh Thị D nhưng ông Ph bà D không đến tham gia tố tụng và vắng mặt tại phiên tòa coi như bị đơn đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Thái Hoàng Ph và bà Huỳnh Thị D trả số tiền gốc và lãi đã vay; Hội đồng xét xử thấy rằng: Giữa Ngân hàng và ông Thái Hoàng Ph và bà Huỳnh Thị D ký kết Hợp đồng tín dụng số: 1173/2021/414-TD-CV, ngày 06/10/2021. Hợp đồng được ký kết trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội và đã tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được thừa nhận, bảo vệ. Sau khi ký hợp đồng, ông Ph bà D đã nhận đủ số tiền vay là 230.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi triệu đồng). Theo thỏa thuận trong hợp đồng, ông Ph bà D có nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi hàng tháng cho Ngân hàng tuy nhiên đến ngày 29/11/2022 ông Ph bà D không trả nợ nữa, Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở và đôn đốc nhưng ông Ph bà D vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Do đó, khẳng định ông Ph bà D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ tại Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết, ông Ph bà D phải chịu mọi hậu quả phát sinh từ hợp đồng và theo quy định của pháp luật.

Về lãi suất: Các bên thỏa thuận tại thời điểm xác lập Hợp đồng tín dụng về lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 468 và Điều 418 của Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Thái Hoàng Ph và bà Huỳnh Thị D phải trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 08/6/2023) tổng cộng là 256.620.849đ (Hai trăm năm mươi sáu triệu, sáu trăm hai mươi nghìn, tám trăm bốn mươi chín đồng) là phù hợp với Hợp đồng tín dụng đã ký kết, Bảng kê chi tiết tình hình nợ gốc và lãi đồng thời phù hợp với quy định tại các Điều 463, 466, 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự nên có cơ sở chấp nhận.

Ngân hàng yêu cầu: Ông Thái Hoàng Ph và bà Huỳnh Thị D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán kể từ ngày 09/6/2023 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Xét thấy yêu cầu này của Ngân hàng phù hợp với các nội dung mà các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số: 1173/2021/414-TD-CV, ngày 06/10/2021; Phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng nên được chấp nhận.

Về tài sản thế chấp: Hợp đồng thế chấp tài sản số: 0929/2021/414-TD-BĐ, ngày 06/10/2021 được ký kết giữa một bên là đại diện ngân hàng và một bên là ông Thái Hoàng Ph và bà Huỳnh Thị D đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa 117, tờ bản đồ số 11a đã được cấp quyền sử dụng đất ngày 24/02/2021 đứng tên ông Thái Hoàng Ph và bà Huỳnh Thị D và được phòng công chứng số 01 tỉnh Ninh Thuận công chứng tại số: 6087, ngày 06/10/2021; Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 29/3/2023 ông Ph bà D cũng đã xác nhận tài sản thế chấp tại thời điểm thẩm định không có gì thay đổi so với thời điểm thế chấp.

Xét thấy: Hợp đồng thế chấp trên là để bảo đảm cho khoản vay tín dụng tại Hợp đồng tín dụng số: 1173/2021/414-TD-CV, ngày 06/10/2021 và đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 317 Bộ luật dân sự nên được chấp nhận và bảo vệ vì vậy ngân hàng yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp trên để bảo đảm thi hành án, trường hợp ông Ph bà D không thanh toán hoặc thanh toán không đủ thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về xem xét thẩm định tại chỗ: Chi phí xem xét thẩm định tổng cộng là 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng) đã được nguyên đơn nộp tạm ứng; Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn ông Thái Hoàng Ph và bà Huỳnh Thị D phải chịu chi phí này theo quy định tại Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí; Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bị đơn ông Thái Hoàng Ph và bà Huỳnh Thị D phải chịu 12.831.000đ (Mười hai triệu tám trăm ba mươi mốt nghìn đồng – đã làm tròn) án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Điều 157; Điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 463, 466 468, 418, 317 của Bộ luật dân sự;

- Điều 91 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng;

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần N.

1. Buộc ông Thái Hoàng Ph và bà Huỳnh Thị D phải liên đới trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần N tổng số tiền là: 256.620.849đ (Hai trăm năm mươi sáu triệu, sáu trăm hai mươi nghìn, tám trăm bốn mươi chin đồng), trong đó nợ gốc là: 225.000.000đ; Nợ lãi trong hạn là 4.534.459đ; Nợ lãi quá hạn là 26.763.370đ; Phạt chậm trả là: 323.020đ.

2. Kể từ ngày 09/6/2023, ông Thái Hoàng Ph và bà Huỳnh Thị D còn phải tiếp tục liên đới chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số: 1173/2021/414-TD-CV, ngày 06/10/2021 đối với số tiền nợ gốc chưa thanh toán, tương ứng với thời gian chậm thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

3. Trường hợp ông Thái Hoàng Ph bà Huỳnh Thị D không thanh toán hoặc thanh toán không đủ thì ngân hàng thương mại cổ phần N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự huyện Ninh Phước phát mãi tài sản thế chấp tại Hợp đồng thế chấp tài sản số: 0929/2021/414-TD-BĐ, ngày 06/10/2021 để thu hồi nợ.

4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Thái Hoàng Ph và bà Huỳnh Thị D phải chịu 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ; Số tiền này nguyên đơn đã nộp tạm ứng đủ. Buộc ông Thái Hoàng Ph và bà Huỳnh Thị D hoàn lại cho ngân hàng thương mại cổ phần Nam Á 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

5. Về án phí: Ông Thái Hoàng Ph và bà Huỳnh Thị D phải chịu 12.831.000đ (Mười hai triệu tám trăm ba mươi mốt nghìn đồng – đã làm tròn) án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng thương cổ phần N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng thương cổ phần N tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.139.000 đồng (Sáu triệu một trăm ba mươi chín nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003000, ngày 10/3/2023 tại Chi cục thi hành dân sự huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai có mặt đại diện nguyên đơn, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08/6/2023). Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.

Cỡ chữ