- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Đức Tuyễn phạm tội "Tàng trữ hàng cấm" - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt Đặng Đức T 06 (sáu) tháng tù về tội: “Tàng trữ hàng cấm” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án (27/01/2022).
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/ 2022/ HS-ST Ngày 27- 01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y - TỈNH NGHỆ AN
- Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Văn Phú.
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Thanh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An.
- Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện Y tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số 12/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2022/QĐXXST- HS ngày 21 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
Đặng Đức T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 15 tháng 11 năm 2003 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm T, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hoá (học vấn): Đang là học sinh lớp 12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Hồng T, sinh năm 1975 và bà Dương Thị T, sinh năm: 1976; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt tạm giữ từ ngày 23/12/2021 đến ngày 26/12/2021, sau đó bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện có mặt tại phiên tòa.
Người tham gia tố tụng khác:
Người chứng kiến: Anh Nguyễn Quang B, sinh ngày 10/7/1989
Nơi cư trú: Xóm Đ, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An.Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 22/12/2021 Đặng Đức T trú tại Xóm T, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An sử dụng mạng xã hội Zalo đăng nhập tài khoản của mình và nhắn tin cho tài khoản có tên “Hoàng Anh” để hỏi mua pháo với với mục đích sử dụng vào dịp tết nguyên đán. T hỏi người này “có pháo loại 36 quả không?” thì người đó trả lời “có” và nói giá mỗi bánh pháo là 1.000.000đ, T đồng ý và đặt mua 05 bánh pháo tổng số tiền 5.000.000đ. Sau khi thống nhất số tiền và giá pháo xong người này hẹn sẽ giao pháo gần nhà của Đặng Đức T.
Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày T một mình đi bộ từ nhà ở của mình khi đi được khoảng 100m nhắn địa chỉ qua Zalo cho người bán, sau đó đợi khoảng 15 phút thì thấy 01 nam thanh niên một mình đi xe Honda Dream màu trắng không rõ biển số, người cao khoảng 1m58, dáng người gầy, đầu đội mũ lưỡi trai, có bịt khẩu trang kín, trên xe chở một bao tải xác rắn đi đến chỗ T. Khi đến nơi người đó đưa bao xác rắn cho T, T kiểm tra thấy bên trong có 05 bánh pháo loại 36 quả, xem xong T đưa cho người đó 5.000.000đ, sau khi nhận tiền người đó quay xe máy rời đi.
Sau khi giao dịch mua bán xong T đã xóa hết các tin nhắn Zalo với người bán pháo rồi xách bao xác rắn có chứa 05 bánh pháo đi bộ về phía nhà ở của T để cất dấu đợi đến tết nguyên đán sẽ sử dụng. Khi T đi được khoảng 10 m thì bị lực lượng công an huyện Y bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số pháo nói trên và chiếc điện thoại di động dùng để liên lạc mua pháo. Đồ vật thu giữ được tiến hành niêm phong với sự chứng kiến của ông Nguyễn Quang B, bị cáo và trưởng công an xã N, huyện Y.
Đặc điểm cụ thể vật chứng tu giữ như sau: 05 khối hình hộp chữ nhật trong đó có 02 khối có kích thước 16x16x12 cm và 03 khối hình hộp chữ nhật có kích thước 16x16x10 cm, bên ngoài được bọc bằng giấy có nhiều màu sắc I ký hiệu A842, bên trong mỗi khối đều chứa 36 khối hình trụ tròn giống nhau và 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI màu đỏ, bên trong bọc ốp lưng màu đen - trắng có số IMEI 1: 867615048771692 và IMEI 2: 867615048791708 bên trong chứa 01 sim số 0355042.107.
Cùng ngày Cơ quan điều tra Công an huyện Y tiến hành khám xét chỗ ở của bị cáo T tuy nhiên không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội của T.
Vào lúc 0 giờ 30 ngày 23/12/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại có Thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra, điều tra viên, kiểm sát viên và bị cáo chứng kiến, ký tên vào biên bản. Tại biên bản cán bộ kỹ thuật hình sự xác định 05 khối hình chữ nhật sau khi loại bỏ bao bì có khối lượng là 6,1 kg và tiến hành lấy 02 mẫu của 02 loại kích thước của vật chứng có khối lượng 2,6 kg có ký hiệu M1 và M2 niêm phong gửi giám định; số pháo còn lại có khối lượng 3,5 kg được niêm phong bảo quản đúng qui định pháp luật.
Tại bản Kết luận giám định số 19/KL-PC09(Đ2-CN) ngày 27 tháng 12 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận “các mẫu vật ký hiệu M1 và M2 thu giữ của Đặng Đức T gửi giám định đều là pháo, đều thuộc loại pháo nổ”.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận số 19/KL-PC09(Đ2-CN) ngày 27 tháng 12 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nghệ An.
Tại quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 01/ QĐ –VKSYT-NA ngày 17 tháng 01 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Y đã truy tố Đặng Đức T ra trước Toà án nhân dân huyện Y để xét xử về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Đức T thừa nhận hành vi tàng trữ hàng cấm của mình đúng như nội dung bản Quyết định truy tố.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i,s, khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Đức T mức án từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo đang là học sinh lớp 12, không có thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung với bị cáo.
Về vật chứng áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 03 bánh pháo nổ có khối lượng 3,5 kg được niêm phong bảo quản đúng qui định pháp luật.
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI màu đỏ, bên trong bọc ốp lưng màu đen - trắng có số IMEI 1: 867615048771692 và IMEI 2: 867615048791708 bên trong chứa 01 sim số 0355042.107 bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội.
Về án phí buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về các hành vi và quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo, bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, đủ cơ sở khẳng định các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong giai đoạn điều tra, truy tố là có tính khách quan và hợp pháp.
Nội dung nhận định của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa nhận thấy: Bị cáo Đặng Đức T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như quyết định truy tố của Viện kiểm sát đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để xác định: Vào khoảng 21 giờ 10 phút ngày 22/12/2021 tại địa phận Xóm T, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An bị cáo Đặng Đức T đang có hành vi tàng trữ trái phép 6,1kg pháo nổ trên tay thì bị bắt quả tang. Quá trình điều tra xác định mục đích của T mua pháo về để nổ vào dịp tết nguyên đán.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, kinh doanh một số loại hàng cấm, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước và ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo khi phạm tội có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi tàng trữ trái phép 6,1kg pháo nổ của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mặc dù nhà nước, chính quyền địa phương thường xuyên tuyên truyền nhất là vào dịp giáp tết nguyên đán tuy nhiên bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi tàng trữ trái phép pháo nổ là thể hiện sự coi thường pháp luật. Bị cáo là người trực tiếp thực hiện giao dịch mua hàng cẩm để tàng trữ nhằm mục đích sử dụng vào dịp tết nguyên đán thì bị bắt quả tang. Do đó hành vi của bị cáo Đặng Đức T đã đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” qui định tại điểm c khoản 1 điều 191 của Bộ luật hình sự với mức hình phạt từ 50.000.000đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm với bị cáo bằng một chế tài hình sự tương xứng với hành vi phạm tội mới có tác dụng phòng ngừa chung và răn đe giáo dục riêng đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo Đặng Đức T không phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó cần cho bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ nêu trên để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Theo qui định tại khoản 4 điều 191 BLHS qui định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo mặc dù đã trưởng thành đủ 18 tuổi trở lên nhưng đang là học sinh lớp 12 không có thu nhập, không còn tài sản nào khác. Do đó Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa quyết định miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng, xử lý vật chứng: 05 khối hình hộp chữ nhật trong đó có 02 khối có kích thước 16x16x12 cm và 03 khối hình hộp chữ nhật có kích thước 16x16x10 cm, bên ngoài được bọc bằng giấy có nhiều màu sắc I ký hiệu A842, bên trong mỗi khối đều chứa 36 khối hình trụ tròn giống nhau thu giữ của bị cáo sau khi loại bỏ bao bì có khối lượng là 6,1 kg và tiến hành lấy 02 mẫu của 02 loại kích thước có khối lượng 2,6 kg có ký hiệu M1 và M2 niêm phong gửi giám định(Mẫu giám định không hoàn lại); số bánh pháo còn lại gồm 01 khối có kích thước 16x16x12 cm và 02 khối hình hộp chữ nhật có kích thước 16x16x10 có khối lượng 3,5 kg được niêm phong bảo quản đúng qui định pháp luật. Xét thấy, đây là vật Nhà nước cấm lưu hành trái phép và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI màu đỏ, bên trong bọc ốp lưng màu đen-trắng có số IMEI 1:867615048771692 và IMEI 2: 867615048791708 bên trong chứa 01 sim số 0355042.107. Xét thấy đây là chiếc điện thoại liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Về những vấn đề khác: Đối với người đàn ông lạ mặt đã giao pháo nổ cho T và tài khoản Zalo “Hoàng Anh” đã liên lạc để mua, bán số pháo trên cho bị cáo Đặng Đức T. Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân, lại lịch nên không có căn cứ xử lý.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo bản án sơ thẩm:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 331 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
1. Xử phạt Đặng Đức T 06 (sáu) tháng tù về tội: “Tàng trữ hàng cấm” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án (27/01/2022).
Giao bị cáo Đặng Đức T cho uỷ ban nhân dân xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 3 điều 92 luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số vật chứng là pháo còn lại có khối lượng 3,5 kg hiện đang được bảo quản, quản lý theo lệnh nhập kho số 72 ngày 29/12/2021 của Thủ trưởng cơ quan CSĐT Công an huyện Y. Số lượng và đặc điểm vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng của Công an huyện Y ngày 31/12/2021. Khi bản án có hiệu lực pháp luật Công an huyện Y có trách nhiệm phối hợp, chuyển giao toàn bộ số vật chứng nêu trên cho Chi cục thi hành án Dân sự huyện Y để tổ chức tiêu hủy theo qui định của pháp luật.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI màu đỏ, bên trong bọc ốp lưng màu đen-trắng có số IMEI 1: 867615048771692 và IMEI 2: 867615048791708 bên trong chứa 01 sim số 0355042.107
Vật chứng đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án Dân sự huyện Y quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng đề ngày 21/01/2022 giữa cơ quan CSĐT Công an huyện Y và Chi cục thi hành án Dân sự huyện Y.
3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo Đặng Đức T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo lên toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An; - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An; - Viện kiểm sát nhân dân h. Y; - Công an huyện Y; - Chi cục THADS Y; - THA hình sự; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Văn Phú |