- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thắng - CYGTT - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? * Căn Cứ: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 điều 51; Khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MH TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2022/HSST. Ngày: 25/02/2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MH - TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Thế Dương.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1- Ông Phan Xuân Hùng.
2- Bà Vũ Thu Hiền.
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đăng Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã MH, tỉnh Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã MH, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Bùi Kim Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã MH, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 54/2021/HSST ngày 29 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2021/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2021, thông báo ấn định thời gian xét xử số 01 ngày 04/01/2022, quyết định hoãn phiên tòa số 01 ngày 17/01/2022, quyết định hoãn phiên tòa số 02 ngày 27/01/2022 đối với bị cáo:
* Nguyễn Xuân Th - Sinh năm 1992, tại phường PDP, thị xã MH, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: Tổ dân phố PX, phường PDP, thị xã MH, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; T2 giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên cha: Nguyễn Xuân Q; Họ và tên mẹ: Lưu Thị V; Có vợ: Nguyễn Thị Ngọc Q và có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh 2017.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang được tại ngoại tại phường PDP, thị xã MH, tỉnh Hưng Yên. (Có mặt tại phiên tòa).
* Người bị hại: Nguyễn Văn T1 - Sinh năm 1997 (Có mặt). Địa chỉ: Thôn Ao, xã MH, huyện VL, tỉnh Hưng Yên.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1- Chị Phan Thị H - Sinh năm 2001 (Vắng mặt).
2- Bà Nguyễn Thị B - Sinh năm 1977 (Có mặt). Đều có địa chỉ: Thôn Ao, xã MH, huyện VL, tỉnh Hưng Yên.
3- Ông Nguyễn Xuân Q - Sinh năm 1955 (Có mặt).
4- Bà Lưu Thị V - Sinh năm 1962 (Vắng mặt). Đều có địa chỉ: Tổ dân phố PX, phường PDP, thị xã MH, tỉnh Hưng Yên.
* Người làm chứng :
1- Anh Nguyễn Văn Kh - Sinh năm 1976 (Có mặt). Địa chỉ: Thôn Ao, xã MH, huyện VL, tỉnh Hưng Yên.
2- Anh Nguyễn Xuân H1 - Sinh năm 1999 (Vắng mặt). Địa chỉ: Thôn Ch, xã MH, huyện VL, tỉnh Hưng Yên.
3- Anh Đoàn Xuân H2 - Sinh năm 1998 (Vắng mặt). Địa chỉ: Thôn Ao, xã MH, huyện VL, tỉnh Hưng Yên.
4- Anh Lê Đức T2 - Sinh năm 1993 (Vắng mặt). Địa chỉ: Thôn Ch, xã MH, huyện VL, tỉnh Hưng Yên.
5- Anh Lê Văn T3 - Sinh năm 1996 (Vắng mặt). Địa chỉ: Thôn Kh, xã MH, huyện VL, tỉnh Hưng Yên.
6- Anh Vương Văn T4 - Sinh năm 1994 (Vắng mặt). Địa chỉ: Tổ dân phố PX, phường PDP, thị xã MH, tỉnh Hưng Yên.
7- Vũ Minh M - Sinh năm 1994 (Vắng mặt). Địa chỉ: Tổ dân phố PX, phường PDP, thị xã MH, tỉnh Hưng Yên.
8- Anh Phạm Văn D - Sinh năm 1992 (Vắng mặt). Địa chỉ: Thôn Ch, xã MH, huyện VL, tỉnh Hưng Yên.
9- Bà Nguyễn Thị S - Sinh năm 1960 (Vắng mặt). Địa chỉ: Tổ dân phố PX, phường PDP, thị xã MH, tỉnh Hưng Yên.
10- Anh Lương Văn Đ - Sinh năm 1997 (Vắng mặt). Địa chỉ: Tổ dân phố PX, phường PDP, thị xã MH, tỉnh Hưng Yên.
11- Bà Lê Thị Minh T5 - Sinh năm 1968 (Vắng mặt). Địa chỉ : Thôn Ao, xã MH, huyện VL, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài hiệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Xuân Th - Sinh năm 1992, ở tổ dân phố PX, phường PDP, thị xã MH và Nguyễn Văn T1 - Sinh năm 1997, ở thôn Ao, xã MH, huyện VL đều thuộc tỉnh Hưng Yên có quen biết và chơi với nhau từ trước.
Khoảng 17 giờ ngày 09/5/2021 Nguyễn Xuân Th một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave đến nhà Nguyễn Văn T1 chơi. Tại đây Nguyễn Xuân Th có ngồi uống bia cùng Nguyễn Văn T1 và các anh Phạm Văn D sinh năm 1992, ở thôn CL, xã ĐT, huyện KC; Nguyễn Xuân H1 sinh năm 1999 và Lê Đức T2 sinh năm 1993, đều ở thôn Ch, xã MH, huyện VL. Khi mọi người đang ngồi uống bia thì anh D và T2 có việc nên lần lượt đi về trước. Còn lại Xuân Thắng, Văn Thắng và anh Huy tiếp tục ngồi uống bia được một lúc thì Nguyễn Văn T1 rủ Nguyễn Xuân Th và Huy đi sang nhà anh T2 chơi, Nguyễn Xuân Th và anh Huy đồng ý. Lúc này Nguyễn Xuân Th có đưa chìa khóa điện xe mô tô nói trên cho Nguyễn Văn T1 để Nguyễn Văn T1 chở Nguyễn Xuân Th và anh Huy đến nhà anh T2, sau đó tiếp tục đến nhà anh Nguyễn Văn Tuấn sinh năm 1997 ở thôn Thanh Khê, xã MH, huyện VL uống rượu. Quá trình ngồi uống rượu tại nhà anh Tuấn thì Nguyễn Văn T1 có việc phải đi ra ngoài và vẫn cầm chìa khóa xe của Nguyễn Xuân Th. Khi Nguyễn Xuân Th đi về nhưng không thấy Nguyễn Văn T1 đâu, lúc này Nguyễn Xuân Th có gọi điện cho Nguyễn Văn T1 hỏi chìa khóa thì giữa Nguyễn Xuân Th và Nguyễn Văn T1 có cãi nhau, sau đó Nguyễn Xuân Th dắt bộ xe về nhà. Tại nhà mình Nguyễn Xuân Th nhiều lần gọi cho Nguyễn Văn T1 để hỏi chìa khóa nhưng không thấy Nguyễn Văn T1 nghe máy nên Nguyễn Xuân Th có gọi điện cho anh T2 để hỏi về Nguyễn Văn T1 và chìa khóa xe mô tô thì giữa Nguyễn Xuân Th và anh T2 lại xảy ra cãi cọ và thách thức nhau. Nguyễn Xuân Th nghĩ nhóm Nguyễn Văn T1 và anh T2 sẽ đến đánh mình nên đã đi vào trong bếp cầm một con dao (loại dao bài) ra cửa nhà ngồi ở ghế đá đợi nhóm Nguyễn Văn T1 và T2 đến để đánh nhau. Nguyễn Xuân Th ngồi đợi một lúc nhưng không thấy ai đến nên đi sang nhà bà Nguyễn Thị Sáng, sinh năm 1960 ở cùng tổ dân phố chơi và để con dao trên ghế đá. Lúc này ông Nguyễn Văn Q sinh năm 1955 (là bố đẻ của Nguyễn Xuân Th) đi ra thấy con dao nên cầm cất vào trong bếp. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày Nguyễn Xuân Th quay lại ngồi ở ghế đá thì không thấy con dao nên Nguyễn Xuân Th tiếp tục đi vào bếp lấy 02 con dao bài (01 con có chiều dài 41cm, lưỡi dao sắc làm bằng kim loại dài 29cm, rộng 07cm, chuôi dao làm bằng gỗ dài 12cm và 01 con dao có chiều dài 34,9cm, lưỡi dao sắc làm bằng kim loại dài 23cm, rộng 06cm, chuôi dao bằng gỗ dài 11,9cm) cầm ở hai tay ra ngoài cổng đứng đợi. Còn Nguyễn Văn T1 sau khi về đến nhà thì điều khiển xe mô tô cầm theo chìa khóa xe mô tô của Nguyễn Xuân Th đến nhà Nguyễn Xuân Th để trả. Khi đến đoạn đường bê T2g gần cổng gia đình nhà Nguyễn Xuân Th, lúc này Nguyễn Xuân Th hai tay cầm hai con dao nói trên tiến về phía Nguyễn Văn T1. Thấy vậy Nguyễn Văn T1 xuống xe và tiến về phía Nguyễn Xuân Th, giữa hai bên xảy ra xô sát cãi nhau. Khi Nguyễn Xuân Th và Nguyễn Văn T1 tiến gần sát nhau thì Nguyễn Xuân Th hai tay cầm hai con dao dơ lên ngang tầm cổ và vai của Nguyễn Văn T1, đồng thời hướng lưỡi dao ra phía ngoài đẩy vào người Văn Thắng, Văn Thắng tiếp tục tiến về phía Nguyễn Xuân Th thì lại bị Nguyễn Xuân Th tiếp tục dùng dao đẩy ra. Lúc này ông Q đi ra thấy vậy nên vào can không cho Nguyễn Xuân Th và Nguyễn Văn T1 lao vào nhau nữa. Hậu quả Nguyễn Văn T1 bị thương sau đó được anh Lê Văn T3 sinh năm 1996, ở thôn Kh, xã MH, huyện VL, tỉnh Hưng Yên đến đưa vào Bệnh viện đa khoa Phố Nối cấp cứu, sau đó được chuyển lên bệnh viện hữu nghị Việt Đức - Hà Nội điều trị từ ngày 09/5/2021 đến ngày 13/5/2021 thì chuyển về Bệnh viện đa khoa Phố Nối tiếp tục điều trị đến ngày 20/5/2021 thì ra viện.
Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã MH tiến hành khám nghiệm hiện trường đã thu giữ vật chứng: Thu giữ tại hiện trường chất màu nâu đỏ nghi là máu (ký hiệu M) và 06 viên gạch có hình dạng và kích thước khác nhau. Nguyễn Xuân Th cũng tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 con dao (loại dao bài) có chiều dài 41cm, lưỡi dao sắc làm bằng kim loại dài 29cm, rộng 07cm, chuôi dao làm bằng gỗ dài 12cm và 01 con dao (loại dao bài) có chiều dài 34,9cm, lưỡi dao sắc làm bằng kim loại dài 23cm, rộng 06cm, chuôi dao bằng gỗ dài 11,9cm. Trên lưỡi và chuôi 02 con dao nói trên có bám dính chất màu nâu đỏ nghi là máu (ký hiệu D).
Ngày 13/5/2021 ông Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1976, ở thôn Ao, xã MH, huyện VL, tỉnh Hưng Yên (là bố đẻ của anh Nguyễn Văn T1) đã trình báo sự việc nói trên đến Công an thị xã MH.
Ngày 25/5/2021 anh Nguyễn Văn T1 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với Nguyễn Xuân Th.
Tại bệnh án số 0212309790 ngày 09/5/2021 của Bệnh viện Đa khoa Phố Nối xác định: Anh Nguyễn Văn T1 vào viện hồi 22 giờ 20 phút ngày 09/05/2021 có vết thương ở vùng cổ trái, ở vai phải và xương đòn trái.
Tại bệnh án số 22621 ngày 10/5/2021 của Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức xác định: Anh Nguyễn Văn T1 vào viện hồi 00 giờ 45 phút ngày 10/5/2021 có vết thương ở vùng cổ trái, ở vai phải và xương đòn trái, ra viện ngày 13/5/2021.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã MH đã Trưng cầu giám định thương tích đối với anh Nguyễn Văn T1 và mẫu vật chứng đã thu giữ nêu trên. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 98 ngày 11/6/2021 của Trung Tâm Pháp Y
- Sở y tế tỉnh Hưng Yên đối với anh Nguyễn Văn T1 xác định: “01 vết sẹo nhỏ ngang vùng giữa cổ bên trái; 01 vết sẹo kích thước lớn ngang vùng giữa cổ bên trái; 01 vết sẹo nhỏ chéo ngang vùng xương đòn trái; 01 vết sẹo kích thước trung bình chéo sau mặt vai phải; Tổn thương tĩnh mạch cảnh ngoài bên trái, sau phẫu thuật phục hồi tốt; Tổn thương khí quản đơn thuần; Vận động cổ bình thường, không thấy bất thường về giọng nói khi giao tiếp”.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây lên tại thời điểm giám định là 29%.
Cơ chế hình thành viết thương do dạng vật sắc gây nên.
Tại bản kết luận giám định số 4111/C09-TT3 ngày 15/6/2021 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an xác định: “Mẫu nghi máu người thu tại hiện trường (ký hiệu M) là máu của Nguyễn Văn T1”, “Trên 02 con dao gửi giám định (ký hiệu D) đều có bám dính máu của Nguyễn Văn T1”.
Quá trình điều tra, anh Nguyễn Văn T1 yêu cầu Nguyễn Xuân Th bồi thường kinh phí điều trị vết thương, mất thu nhập trong thời gian điều trị vết thương và tổn thất về tinh thần tổng số tiền 700.000.000đ (Bảy trăm triệu đồng). Gồm: Kinh phí điều trị vết thương 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng), tiền xe đi viện 5.000.000đ (Năm triệu đồng), tiền mất thu nhập thực tế là 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng); tiền tổn thất tinh thần là 483.000.000đ (Bốn trăm tám mươi ba triệu đồng). Bị cáo Nguyễn Xuân Th và gia đình đã bồi thường được cho anh Nguyễn Văn T1 tổng số tiền 70.000.000đ (Bảy mươi triệu đồng). Anh Nguyễn Văn T1 đã nhận được 70.000.000đ (Bảy mươi triệu đồng) và tiếp tục yêu cầu bị cáo Nguyễn Xuân Th phải bồi thường cho anh 630.000.000đ (Sáu trăm ba mươi triệu đồng).
Quá trình điều tra xác định: Thời gian anh Nguyễn Văn T1 điều trị vết thương từ ngày 10/5/2021 đến ngày 05/7/2021. Trong thời gian nói trên bà Nguyễn Thị Biết sinh năm 1977 và chị Phan Thị Hương sinh năm 2001, đều ở thôn Ao, xã MH, huyện VL, tỉnh Hưng Yên (là mẹ đẻ và vợ của Nguyễn Văn T1) thay nhau mỗi người chăm sóc anh Văn Thắng 28 ngày. Nay bà Biết yêu cầu Nguyễn Xuân Th phải bồi thường cho bà thu nhập thực tế bị mất trong thời gian chăm sóc cho Nguyễn Văn T1 số tiền là 9.800.000đ (Chín triệu, tám trăm nghìn đồng), còn chị Hương yêu cầu Nguyễn Xuân Th phải bồi thường cho chị thu nhập thực tế bị mất trong thời gian chăm sóc cho Nguyễn Văn T1 số tiền là 7.000.000đ (Bảy triệu đồng).
Đối với 06 viên gạch bị vỡ có kích thước khác nhau quá trình điều tra xác định không liên quan đến việc phạm tội.
Đối với 01 con dao (loại dao bài) có chiều dài 41cm, lưỡi dao sắc làm bằng kim loại dài 29cm, rộng 07cm, chuôi dao làm bằng gỗ dài 12cm và 01 con dao (loại dao bài) có chiều dài 34,9cm, lưỡi dao sắc làm bằng kim loại dài 23cm, rộng 06cm, chuôi dao bằng gỗ dài 11,9cm. Qua điều tra xác định là của Nguyễn Xuân Th đã sử dụng vào việc phạm tội.
Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Xuân Th đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra bị cáo còn khai nhận: Trước đó vào khoảng tháng 3/2021, Nguyễn Xuân Th có đến khu vực ngã ba Lạng thuộc xã MH, huyện VL gặp Nguyễn Văn T1 để lấy ma túy hộ một người bạn tên là Đại (không rõ họ, tên đệm và tuổi) ở cùng tổ dân phố. Mọi thỏa thuận mua bán ma túy Đại và Nguyễn Văn T1 đã thỏa thuận trước đó. Khi nhận ma túy từ Nguyễn Văn T1, Nguyễn Xuân Th đưa cho Nguyễn Văn T1 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng), còn lại số tiền 6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng) Đại nợ lại Nguyễn Văn T1. Nay Đại chưa trả được Nguyễn Văn T1 nên Nguyễn Văn T1 đòi Nguyễn Xuân Th. Số ma túy nhận từ Nguyễn Văn T1, Nguyễn Xuân Th mang về đưa hết cho Đại. Đồng thời Nguyễn Xuân Th còn khai nhận trong quá trình xảy ra xô sát, đánh nhau với Nguyễn Văn T1, Nguyễn Xuân Th còn bị 02 đối tượng dùng tuýp sắt vụt vào đầu gối chân trái và ném gạch nảy vào chân phải; Ông Q (bố đẻ của Thắng) bị một đối tượng dùng tuýp sắt vụt vào cánh tay phải.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã MH tiến hành xác minh, quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T1 không thừa nhận đã bán ma túy cho Đại, không đưa ma túy cho Nguyễn Xuân Th như Nguyễn Xuân Th đã khai. Tiến hành cho Nguyễn Xuân Th đối chất với Nguyễn Văn T1 nhưng Nguyễn Xuân Th và Nguyễn Văn T1 vẫn giữ nguyên lời khai của mình. Tiến hành ra soát tại tổ dân phố PX, phường PDP, thị xã MH xác định có anh Lương Văn Đại, sinh năm 1997. Cơ quan điều tra đã triệu tập anh Đại đến làm việc nhưng anh Đại không có mặt tại địa phương. Đối với việc Nguyễn Xuân Th khai hành vi Mua bán trái phép chất ma túy như nêu ở trên thuộc địa bàn huyện VL, tỉnh Hưng Yên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã MH đã có Công văn thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện VL để giải quyết theo thẩm quyền.
Còn đối với việc Nguyễn Xuân Th khai bị một đối tượng dùng tuýp sắt vụt vào đầu gối chân trái và 01 đối tượng ném gạch nảy vào chân phải; Ông Q bị một đối tượng dùng tuýp sắt vụt vào cánh tay phải. Qua điều tra Nguyễn Xuân Th và ông Q không xác định được những đối tượng đã gây thương tích, đồng thời cả hai đều tự nguyện không yêu cầu đề nghị gì về thương tích nêu trên.
Đối với ông Nguyễn Văn Q, sau khi biết sự việc xô sát giữa Nguyễn Xuân Th và Nguyễn Văn T1, ông Q chỉ ra can ngăn không tham gia gây thương tích cho Nguyễn Văn T1 nên không có căn cứ để xử lý.
Bản cáo trạng số 55/CT-VKSMH ngày 28/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã MH đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân Th về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay: Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Phan Thị Hương, bà Lưu Thị Viên; Vắng mặt người làm chứng là anh Nguyễn Xuân Huy, anh Đoàn Văn Hưng, anh Lê Đức T2, anh Lê Văn T3, anh Vương Văn T4, anh Vũ Minh Minh, anh Phạm Văn Dương, bà Nguyễn Thị Sáng, anh Lương Văn Đại, bà Lê Thị Minh Thúy.
Bị cáo, người bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt, đại diện Viện kiểm sát đều đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục phiên toà xét xử vụ án vì những người vắng mặt đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ nên việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.
Bị cáo Nguyễn Xuân Th thừa nhận đã có hành vi gây thương tích cho anh Nguyễn Văn T1, cụ thể trong lúc xô sát Nguyễn Xuân Th đã có hành vi dùng hai tay cầm 02 (hai) con dao là hung khí nguy hiểm đẩy vào vùng cổ bên trái, xương đòn trái và sau mặt vai phải anh Nguyễn Văn T1. Hậu quả làm anh Nguyễn Văn T1 bị thương với tỷ lệ thương tật 29% (Hai mươi chín phần trăm).
- Bị cáo Nguyễn Xuân Th, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Q (là bố bị cáo) xác định đã bồi thường cho người bị hại Nguyễn Văn T1 và gia đình bao gồm các khoản chi phí với tổng số tiền 270.000.000đ (Hai trăm bảy mươi triệu đồng).
- Người bị hại là anh Nguyễn Văn T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Biết (mẹ đẻ anh Thắng) xác định đã nhận đủ số tiền 270.000.000đ trên, tự nguyện không có bất cứ yêu cầu bồi thường gì khác và có đơn đề nghị xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, còn xử lý số tiền bồi thường như thế nào gia đình bà và bị hại xin tự giải quyết.
- Người có quyền lợi liên quan là ông Nguyễn Văn Q tự nguyện không yêu cầu bị cáo Thắng phải hoàn trả ông số tiền mà ông cùng bị cáo bỏ ra để bồi thường cho người bị hại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã MH duy trì công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân Th và đề nghị với Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân Th từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về trách nhiệm dân sự: Giữa bị cáo và bị hại cũng như gia đình bị hại đã giải quyết với nhau xong và tự nguyện không yêu cầu gì khác nên đề nghị không xét.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu cho tiêu hủy 06 viên gạch bằng đất nung có hình dạng khác nhau và 01 con dao (loại dao bài) có chiều dài 41cm, lưỡi dao sắc làm bằng kim loại dài 29cm, rộng 07cm, chuôi dao làm bằng gỗ dài 12cm, 01 con dao (loại dao bài) có chiều dài 34,9cm, lưỡi dao sắc làm bằng kim loại dài 23cm, rộng 06cm, chuôi dao bằng gỗ dài 11,9cm.
* Bị cáo Nguyễn Xuân Th, người bị hại không tranh luận gì về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt cũng như về phần bồi thường trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác là ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị Biết cũng không có ý kiến và tranh luận gì về phần có quyền lợi liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã MH, Điều tra viên, kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân thị xã MH trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện nên đều hợp pháp.
- Lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng, kết luận giám định, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ nên có đủ căn cứ kết luận: “Khoảng 22 giờ 00 ngày 09/5/2021, tại tổ dân phố PX, phường PDP, thị xã MH, tỉnh Hưng Yên. Do có mâu thuẫn với nhau nên Nguyễn Xuân Th và Nguyễn Văn T1 đã xảy ra xô sát, trong lúc xô sát Nguyễn Xuân Th đã có hành vi dùng hai tay cầm hai con dao là hung khí nguy hiểm đẩy vào vùng cổ bên trái, xương đòn trái và sau mặt vai phải anh Nguyễn Văn T1. Hậu quả làm anh Nguyễn Văn T1 bị thương với tỷ lệ thương tật là 29%”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã MH đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân Th về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự là chính xác và đúng pháp luật.
- Bị cáo phạm tội độc lập, tội phạm đã hoàn thành. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được luật hình sự bảo vệ, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhưng bị cáo vẫn cố ý phạm tội nên cần phải xử nghiêm dành cho bị cáo một hình phạt thích đáng mới tương xứng với mức độ hành vi của bị cáo.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét: Giữa bị cáo và người bị hại là bạn cùng chơi cùng ngồi ăn uống với nhau nhưng vì những mâu thuẫn không hóa giải được nên bị cáo đã thực hiện hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người bị hại Nguyễn Văn T1. Bản thân bị cáo không kiềm chế được khi có lời qua tiếng lại giữa bị cáo với người bị hại nên có hành vi bột phát gây ra thương tích cho người bị hại. Mặt khác người bị hại cũng có lỗi vì đã cầm theo chìa khóa xe mô tô của bị cáo để bị cáo phải dắt bộ về nhà, khi hai bên đã có mâu thuẫn và có việc cãi nhau trên điện thoại thì có thể bị hại nhờ người khác mang trả chìa khóa cho bị cáo nhưng bị hại lại tự mình đến trả chìa khóa cho bị cáo sau đó giữa hai bên xảy ra xô sát cãi nhau và lao vào nhau, bị hại tiếp tục tiến về phía bị cáo dẫn đến bị cáo gây thương tích cho bị hại; Trong quá trình điều tra và tại phiên toà xét thấy: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo chưa có tiền án tiền sự và có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo cùng gia đình đã khắc phục hậu quả và tự nguyện bồi thường toàn bộ các khoản chi phí cho người bị hại, người có quyền lợi liên quan về phía bị hại với tổng số tiền 270.000.000đ (Hai trăm bảy mươi triệu đồng) nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Người bị hại và người có quyền lợi liên quan về phía bị hại có đơn đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo cải tạo tại địa phương, bố bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, Huân chương chiển sĩ vẻ vang và có đơn trình bày hoàn cảnh xin cho bị cáo được cải tạo tại địa phương được chính quyền địa phương xác nhận và người bị hại cũng có lỗi một phần nên bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xét thấy, bị cáo Nguyễn Xuân Th có nơi cư trú rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mà áp dụng khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo Nguyễn Xuân Th được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
- Về trách nhiệm dân sự: Giữa bị cáo với người bị hại cũng như gia đình người bị hại và người có quyền lợi liên quan đã giải quyết với nhau xong và tự nguyện không yêu cầu gì khác nên về vấn đề này Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về vật chứng:
Đối với 06 viên gạch bằng đất nung có hình dạng khác nhau, quá trình điều tra xác định không liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu cho tiêu hủy;
Đối với 01 con dao (loại dao bài) có chiều dài 41cm, lưỡi dao sắc làm bằng kim loại dài 29cm, rộng 07cm, chuôi dao làm bằng gỗ dài 12cm và 01 con dao (cũng loại dao bài) có chiều dài 34,9cm, lưỡi dao sắc làm bằng kim loại dài 23cm, rộng 06cm, chuôi dao bằng gỗ dài 11,9cm. Quá trình điều tra xác định của Nguyễn Xuân Th sử dụng vào việc phạm tội nên sẽ cho tịch thu tiêu huỷ.
(Tình trạng theo quyết định chuyển vật chứng số 46/QĐ-VKSMH ngày 28/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã MH).
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Xuân Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
* Căn Cứ: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 điều 51; Khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
* Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân Th 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (Năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Xuân Th cho Uỷ ban nhân dân phường PDP, thị xã MH, tỉnh Hưng Yên để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Xuân Th có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Xử lý vi phạm đối với người được hưởng án treo: Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo đã bị kiểm điểm theo quy định tại Điều 91 của Luật thi hành án hình sự nhưng sau khi kiểm điểm vẫn tiếp tục vi phạm và đã được nhắc nhở bằng văn bản mà vẫn cố ý vi phạm thì Công an cấp xã, phường, thị trấn đề xuất Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn báo cáo, đề nghị cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, thành phố tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự số 41/ 2019/ QH14 ngày 14/ 6/ 2019.
* Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Cho tịch thu, hủy bỏ 06 viên gạch bằng đất nung có hình dạng khác nhau; 01 con dao (loại dao bài) có chiều dài 41cm, lưỡi dao sắc làm bằng kim loại dài 29cm, rộng 07cm, chuôi dao làm bằng gỗ dài 12cm và 01 con dao (loại dao bài) có chiều dài 34,9cm, lưỡi dao sắc làm bằng kim loại dài 23cm, rộng 06cm, chuôi dao bằng gỗ dài 11,9cm.
(Tình trạng theo quyết định chuyển vật chứng số 46/QĐ-VKSMH ngày 28/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã MH).
* Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Xuân Th phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, Tòa đã báo cho bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã MH; - Cơ quan CSĐT -CA thị xã MH; - Cơ quan T.H.A HS-CA thị xã MH; - Chi cục T.H.A DS thị xã MH; - Phòng KTNV và T.H.A - Tòa án tỉnh Hưng Yên; - Bị cáo; - Người bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu HS vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trương Thế Dương |