vanban.org

Bản án 12/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 09/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nịnh Văn Đ 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 18/11/2021.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nịnh Văn Đ bồi thường cho anh Cổ Văn Tám số tiền 6.000.000đồng. Về vật chứng: Trả lại bị cáo Nịnh Văn Đ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại máy GalaxyJ2Prime, mặt trước điện thoại màu vàng, mặt sau màu hồng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ninh Van D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nịnh Văn Đ 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 18/11/2021.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC NGẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

tØnh BẮC GIANG
Bản án số: 12/2022/HSST
Ngày 09/03/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Giáp Văn Phẩm.

2. Bà Nguyễn Thị Công Mừng.

- Thư ký phiên toà: Ông Diệp Văn Vĩ – Thư ký Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn Lôc Ng¹n.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lệ Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 03 năm 2022 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2022/HSST ngày 27 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2022/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 02 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số: 10/2022/QĐST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nịnh Văn Đ, sinh năm 2002; Tên gọi khác: Không.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đồng Bụt, xã Đèo Gia, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang; Dân tộc: Cao Lan; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông : Nịnh Văn Thế, sinh năm 1980 và bà: Trương Thị Tài, sinh năm 1985; Vợ, con: Chưa có; Anh chị em ruột: Có 02 anh chị em, bị cáo là thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/11/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang (Có mặt tại phiên toà).

* Bị hại:

1. Chị Tàng Thị Hồng, sinh năm 1978 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Thích, xã Phú Nhuận, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

2. Anh Hoàng Văn Tý, sinh năm 1991 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Khuôm, xã Phú Nhuận, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

3. Anh Ngô Văn Ngát, sinh năm 1974 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Biển Trên, xã Biển Động, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Cổ Văn Tám, sinh năm 1983 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Thanh Văn 1, xã Tân Hoa, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

2. Chị Trần Thị Dung, sinh năm 1991 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Biển Trên, xã Biển Động, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trong khoảng thời gian từ ngày 05/11/2021 đến 16/11/2021 Nịnh Văn Đ, sinh năm 2002, trú tại thôn Đồng Bụt, xã Đèo Gia, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã 03 (ba) lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Lục Ngạn sau đó mang bán và cầm cố để lấy tiền tiêu sài cá nhân, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 12 giờ, ngày 05/11/2021, Nịnh Văn Đ đi bộ từ nhà ở thôn Đồng Bụt, xã Đèo Gia, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đến thôn Khuôm, xã Phú Nhuận, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, mục đích để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến nhà ông Hoàng Văn Say, sinh năm 1965, trú tại thôn Khuôm, xã Phú Nhuận, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, Đạt phát hiện thấy ở sân nhà ông Say có dựng 01 (một) chiếc xe đạp điện nhãn hiệu M133, màu đỏ - đen, xe vẫn cắm chìa khóa điện (đó là xe của anh Hoàng Văn Tý, sinh năm 1991, trú tại thôn Khuôm, xã Phú Nhuận, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang). Quan sát thấy không có người trông coi, Đạt đi đến chỗ chiếc xe, mở khoá điện của xe rồi điều khiển xe đi ra đường thôn Thích, xã Phú Nhuận rồi đi ra đường Quốc Lộ 31. Sau đó Đạt điều khiển xe đạp điện đến cửa hàng điện thoại “Giang Dung” ở thôn Phố Biển, xã Biển Động, huyện Lục Ngạn. Tại đây Đạt đã thỏa thuận bán chiếc xe đạp điện cho chị Trần Thị Dung, sinh năm 1991 (là chủ quán) với giá 1.700.000 đồng. Khi mua bán xe chị Dung viết giấy mua bán xe và bảo Đạt ký, Đạt ký vào giấy tờ giấy mua bán xe với tên là Trung Đức Tài. Số tiền bán xe Đạt sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 19/11/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã ra Yêu cầu định giá tài sản đối với 01 (một) xe đạp điện nhãn hiệu M133, màu sơn đỏ - đen. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 157 ngày 22/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lục Ngạn kết luận: Chiếc xe đạp điện nêu trên tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 7.200.000đồng (Bẩy triệu hai trăm nghìn đồng).

Lần thứ hai: Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 10/11/2021, Nịnh Văn Đ đi bộ từ nhà đến thôn Thích, xã Phú Nhuận, huyện Lục Ngạn, mục đích để trộm cắp tài sản. Khi đi đến khu vực Đèo Nghiến, giáp với thôn Thuận B, xã Phú Nhuận, huyện Lục Ngạn, Đạt phát hiện thấy ở bên trái đường (theo chiều đi của Đạt) có dựng 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 98E-313.80, chìa khóa vẫn cắm ở ổ điện (đó là xe của chị Tàng Thị Hồng, sinh năm 1978, trú tại thôn Thích, xã Phú Nhuận, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang dựng ở đó). Quan sát thấy không có người trông coi, Đạt đi đến gần chiếc xe, mở khoá điện, nổ máy xe và điều khiển xe mô tô đi theo hướng thôn Thuận A ra thôn Quéo, xã Phú Nhuận rồi đi ra xã Biển Động. Sau đó Đạt đi theo quốc lộ 31 đến hiệu cầm đồ của anh Cổ Văn Tám, sinh năm 1983, trú tại thôn Thanh Văn 1, xã Tân Hoa, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đặt vấn đề cầm cố chiếc xe mô tô trên cho anh Tám. Anh Tám nhất trí và thỏa thuận giá cầm cố chiếc xe là 4.700.000đồng (Bốn triệu bảy trăm nghìn đồng), tuy nhiên trong hợp đồng cầm cố ghi giá cầm cố là 5.000.000đồng. Sau khi làm hợp đồng cầm cố xong, Đạt ký tên vào giấy cầm cố với tên là Trung Đức Tài. Trước khi giao xe cho anh Tám, Đạt ra mở cốp xe mô tô ra kiểm tra thấy bên trong cốp xe có 01 (một) chiếc ví kẻ sọc, có chữ “Burburry London” loại ví cầm tay, bên trong ví có 200.000đồng, 01 chứng minh thư, 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1, 01 thẻ bảo hiểm y tế và 01 thẻ ngân hàng đều mang tên Tàng Thị Hồng; 01 đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 98E-313.80 và 01 bảo hiểm dân sự xe mô tô biển kiểm soát 98E-313.80 đều mang tên Dương Văn Gioóng. Sau đó Đạt giao xe mô tô và đăng ký xe cho anh Tám. Còn số tiền 200.000đồng và chiếc ví cùng toàn bộ giấy tờ của chị Hồng, Tám lấy cất vào trong người. Đối với số tiền cầm cố xe 4.7000.000đồng và số tiền 200.000đồng lấy ở trong cốp xe, Đạt đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết, còn chiếc ví và giấy tờ của chị Hồng, Đạt mang về cất dấu ở nhà.

Ngày 19/11/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã ra Yêu cầu định giá tài sản đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, màu sơn đỏ - đen, mang biển kiểm soát 98E1-313.80. Tại bản kết luận định giá tài sản số 156 ngày 22/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lục Ngạn kết luận: Chiếc xe mô tô trên tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 6.600.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm nghìn đồng).

Lần thứ ba: Khoảng 16 giờ, ngày 16/11/2021, Nịnh Văn Đ đi bộ từ cây xăng xã Biển Động, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang về nhà tại thôn Đồng Bụt, xã Đèo Gia, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Khi đi đến địa phận thôn Biển Dưới, xã Biển Động, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, Đạt nhìn thấy 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Espero, mang biển kiểm soát 98AB-033.76 của anh Ngô Văn Ngát, sinh năm 1974, trú tại thôn Biển Dưới, xã Biển Động, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang dựng ở trong vườn, xe vẫn cắm chìa khóa điện và không có người trông coi. Đạt đi đến chỗ chiếc xe, mở khoá điện rồi nổ máy xe đi ra hướng quốc lộ 31. Sau đó Đạt liên lạc qua mạng Zalo với một người phụ nữ có nick Zalo là “Nguyễn Thị Trang” (Đạt không biết họ tên, năm sinh, địa chỉ cụ thể) thỏa thuận bán chiếc xe mô tô đã trộm cắp được cho người phụ nữ trên với giá 1.200.000 đồng. Sau đó, người phụ nữ có nick Zalo “Nguyễn Thị Trang” đã liên lạc lại với Đạt và cùng Đạt đem cầm cố chiếc xe mô tô nêu trên cho anh Cổ Văn Tám, sinh năm 1983, trú tại thôn Thanh Văn 1, xã Tân Hoa, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang với giá 1.300.000đồng. Số tiền cầm cố xe cho anh Tám, Đạt đưa hết cho người phụ nữ có nick Zalo là “Nguyễn Thị Trang”.

Ngày 18/11/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã ra Yêu cầu định giá tài sản đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Espero, màu sơn nâu, xe do Trung Quốc sản xuất được lắp ráp tại Việt Nam, biển kiểm soát: 98AB-033.76. Tại bản kết luận định giá tài sản số 155 ngày 18/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lục Ngạn kết luận: Chiếc xe mô tô trên tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 7.800.000 đồng (Bẩy triệu tám trăm nghìn đồng).

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản kết luận điều tra và Bản cáo trạng đã truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đối với người bị hại Tàng Thị Hồng, Hoàng Văn Tý, Ngô Văn Ngát và người liên quan Trần Thị Dung vắng mặt nhưng đều không yêu cầu đề nghị bị cáo phải bồi thường dân sự. Người liên quan Cổ Văn Tám yêu cầu bị cáo bồi thường theo quy định của pháp luật. Chủ toạ công bố lời khai của người bị hại và người liên quan vắng mặt. Bị cáo Nịnh Văn Đ nhất trí bồi thường cho anh Cổ Văn Tám.

Tại bản Cáo trạng số: 09/CT-VKS-HS ngày 27 tháng 01 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo Nịnh Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng đối với bị cáo và đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Nịnh Văn Đ như sau:

- ¸p dông khoản 1 §iÒu 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 ĐiÒu 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; §iÒu 38 Bé luËt h×nh sù;

Xử phạt bị cáo Nịnh Văn Đ từ 18 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, giữ 18/11/2021.

* Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại là anh Hoàng Văn Tý, anh Ngô Văn Ngát và chị Tàng Thị Hồng và người liên quan Trần Thị Dung không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Buộc bị cáo Nịnh Văn Đ bồi thường cho anh Cổ Văn Tám số tiền 6.000.000đồng.

* Về vật chứng: Áp dụng Điều 48 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Trả lại chọ bị cáo Nịnh Văn Đ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại máy GalaxyJ2Prime, mặt trước điện thoại màu vàng, mặt sau màu hồng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

* Về án phí: Miễn tiền án phí dân sự, hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Ngạn, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như vậy là hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người bị hại, người liên quan: Tại phiên tòa những người bị bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt.

Căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vắng mặt theo qui định của pháp luật.

Nội dung vụ án: Tại phiên toà bị cáo Nịnh Văn Đ khai trong khoảng thời gian từ ngày 05/11/2021 đến ngày 16/11/2021 bị cáo đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gồm: 01 (một) chiếc xe đạp điện, nhãn hiệu M133 màu đỏ - đen của anh Hoàng Văn Tý, có giá trị 7.200.000 đồng; 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 98E-313.80 và 01 ví da đã cũ của chị Tàng Thị Hồng, có tổng giá trị 6.605.000 đồng và 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Espero, biển kiểm soát 98AB-033.76 của anh Ngô Văn Ngát, có giá trị 7.800.000đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo Đạt trộm cắp là: 21.605.000 đồng (Hai mươi mốt triệu sáu trăm linh năm nghìn đồng).

Xét lời khai nhận tội của bị cáo, lời khai báo của người bị hại, người liên quan, biên bản xác định hiện trường, bản ảnh hiện trường, bản ảnh nhận dạng tài sản, vật chứng của vụ án đã thu giữ và kết luận định giá tài sản, đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nịnh Văn Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo 03 lần hành vi Trộm cắp tài sản nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú, quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Sau khi xem xét toàn diện nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tránh nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương, bị cáo là người có sức khỏe nhưng lười lao động, muốn hưởng lợi dựa trên sức lao động của người khác nên Hội Đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như mức đề nghị của Viện kiểm sát để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, sống phụ thuộc gia đình, sinh sống trong vùng kinh tế khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với chị Trần Thị Dung và anh Cổ Văn Tám là những người mua, cầm cố 01 chiếc xe đạp điện và 02 chiếc xe mô tô do Đạt trộm cắp được mang đến bán, cầm cố. Quá trình điều tra xác định khi mua và cầm cố số tài sản trên của Nịnh Văn Đ, cả chị Dung và anh Tám đều không biết đó là tài sản do phạm tội mà có. Do đó cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn không xử lý đối với chị Dung và anh Tám là có căn cứ.

Đối với người phụ nữ có Nick Zalo là “Nguyễn Thị Trang” là người đã mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Espero, mang biển kiểm soát 98AB-033.76 do Đạt trộm cắp mà có, quá trình điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ của người phụ nữ này này nên không có căn cứ để xử lý.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho người bị hại là có căn cứ nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại máy GalaxyJ2Prime, mặt trước điện thoại màu vàng, mặt sau màu hồng là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584; Điều 585; Điều 589 BLDS.

Buộc bị cáo Nịnh Văn Đ bồi thường cho anh Cổ Văn Tám số tiền 6.000.000đồng.

Về án phí: Bị cáo Nịnh Văn Đ là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 589 BLDS; Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 333 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6; Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Nịnh Văn Đ 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 18/11/2021.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nịnh Văn Đ bồi thường cho anh Cổ Văn Tám số tiền 6.000.000đồng.

Về vật chứng: Trả lại bị cáo Nịnh Văn Đ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại máy GalaxyJ2Prime, mặt trước điện thoại màu vàng, mặt sau màu hồng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm và hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nịnh Văn Đ

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, đến thời hạn thanh toán, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành án hoặc thi hành án không đầy đủ thì phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tiền trên số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết công khai.

Cỡ chữ