- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh Tuấn - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Minh T (Tuấn Hùng) phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 12/2022/HS-ST Ngày: 16/3/2022. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Thanh Liêm
2. Ông Trần Đức
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hữu - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2021/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:12/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2022, đối với bị cáo:
Trần Minh T (Tuấn Hùng)), sinh năm 1980. Nơi cư trú: ấp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Bích T1, sinh năm 1955; anh chị em ruột có một người, bị cáo là người thứ nhất; Vợ là Nguyễn Thị T2, sinh năm 1981.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 25/01/2021 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Phạm Tuấn K, sinh năm 1981. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
Người làm chứng:
1/ Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1981. Nơi cư trú: ấp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
2/ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1979. Nơi cư trú: ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).
3/ Chị Nguyễn Thị Cẩm T3, sinh năm 1996. Nơi cư trú: ấp T, xã N, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
4/ Anh Võ Minh T4, sinh năm 1989. Nơi cư trú: khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).
5/ Anh Trần Phú Q, sinh năm 1988. Nơi cư trú: ấp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
6/ Anh Trần Công H4, sinh năm 1984. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (vắng mặt).
7/ Bà Dương Thị S, sinh năm 1954. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Trần Minh T: Ông Hà Quang V2 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 01/9/2020, sau khi uống rượu, Phạm Tuấn K, Trần Minh T, Nguyễn Thị T2 (vợ của Tuấn) đến quán “Tuyết Mai” của Nguyễn Thị Cẩm T3 thuộc ấp P, thị trấn P, huyện T nằm võng nghỉ ngơi. Khi này, Tuấn thấy Kiệt có mang theo 54.000.000 đồng để trong túi quần để tìm vịt mua nên Tuấn nảy sinh ý định chiếm đoạt. Thực hiện ý định này, Tuấn đưa tay vào túi quần Kiệt lấy 54.000.000 đồng thì bị Kiệt phát hiện, dùng tay nắm, giữ tay của Tuấn lại, thì Tuấn gỡ tay Kiệt ra rồi cầm số tiền bỏ chạy, Kiệt tri hô, đuổi theo giằng co giành lại cọc tiền, còn Thúy khuyên ngăn yêu cầu Tuấn trả Kiệt tiền thì Tuấn lấy chai nước ngọt bằng thủy tinh bị bể phần thân để trên quầy thu ngân, cầm trên tay phải đánh trúng vào mặt của Kiệt gây sây sát nhẹ rồi bỏ trốn. Đến 18 giờ, ngày 03/9/2020, Kiệt đến Công an thị trấn Phú Hòa, trình báo. Sau đó, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thoại Sơn trích xuất camera tại nhà nghỉ Anh Đào 4, thị trấn Phú Hòa thu giữ đoạn camera này, riêng Tuấn sau khi chiếm đoạt được 54.000.000 đồng, Tuấn khai tiêu xài cá nhân và sử dụng vào việc đánh bạc thua hết.
Ngày 25/01/2021, Trần Minh T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thoại Sơn bắt tạm giam để điều tra.
Vật chứng thu giữ: Đoạn ghi hình Camera số 1, 4 tại nhà nghỉ “Anh Đào 4”.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trần Minh T khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Bị hại anh Phạm Tuấn K trình bày như nội dung vụ án đã nêu. Kiệt yêu cầu Tuấn bồi thường số tiền 54.000.000 đồng bị chiếm đoạt, riêng phần thương tích do Tuấn gây nên không đáng kể nên Tuấn từ chối giám định và không yêu cầu xử lý hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, đ khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Minh T mức án từ 04 năm đến 05 năm tù về tôi “Cướp giật tài sản”.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Tuấn có trách nhiệm trả cho anh Phạm Tuấn K số tiền chiếm đoạt 54.000.000 đồng.
Trợ giúp viên pháp lý ông Hà Quang V2 trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo Trần Minh T: thống nhất tội danh, Điều khoản cáo trạng truy tố. Tuy nhiên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo các tình tiết sau: Xét về động cơ, mục đích phạm tội bị cáo không có sự chuẩn bị trước, phạm tội tức thì; lúc đầu có ý định tốt muốn giữ tiền giùm cho bị hại, nhưng vì lòng tham nên nảy sinh ý định chiếm đoạt và thực tế bị cáo đã chiếm đoạt số tiền 54.000.000 đồng của bị hại. Về nhân thân, mặc dù trước đây bị cáo có vi phạm pháp luật nhưng hiện tại chưa có tiền án tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thật thà khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải. Về trách nhiệm dân sự, thống nhất quan điểm của Viện kiểm sát buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền đã chiếm đoạt. Từ phân tích nhận định nên trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị để bị cáo sớm trở về đoàn tụ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thoại Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong vụ án này có người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sau khi vụ án xảy ra, người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo Trần Minh T:
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố bị cáo là đúng, lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng, các biên bản hoạt động tố tụng. Ngoài ra còn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thấy có đủ căn cứ xác định: Ngày 01/9/2020, Trần Minh T đã chiếm đoạt số tiền 54.000.000 đồng của anh Phạm Tuấn K, khi bị anh Kiệt phát hiện, bị cáo đã có hành vi lấy vỏ chai thủy tinh bể đánh trả để tẩu thoát. Căn cứ vào quy định của pháp luật, hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, đ khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn truy tố bị cáo về tội danh, Điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Xét thấy, bị cáo Trần Minh T là người đã trưởng thành, có sức khỏe nhưng không chịu lo lao động để nuôi sống bản thân, giúp ích cho gia đình và xã hội, ngược lại vì tham lam tư lợi, muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động vất vã nên dẫn bị cáo vào con đường phạm tội. Bị cáo nhận thức được rằng tài sản của người khác có được phải đổ mồ hôi, công sức rất nhiều; nhưng vì động cơ tư lợi, lười lao động, xem thường pháp luật nên bị cáo đã bất chấp pháp luật. Mặc dù bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu; từ năm 2005 đến năm 2013, bị cáo ba lần liên tiếp bị Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục do vi phạm pháp luật. Bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân để tự cải tạo thành công dân tốt mà lại tiếp tục phạm tội; điều này thể hiện ý thức của bị cáo rất xem thường pháp luật,
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, tập trung nhiều tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự; xâm hại trực tiếp đến tài sản hợp pháp người khác được pháp luật bảo vệ mà gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng: Không có
Về tình tiết giảm nhẹ:
Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ sau: Bị cáo xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, học vấn thấp; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải.
Các biện pháp tư pháp khác:
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo chiếm đoạt tiền của bị hại thì phải có trách nhiệm bồi thường. Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 54.000.000 đồng, nên cần buộc bị cáo có trách nhiệm trả lại cho anh Phạm Tuấn K số tiền 54.000.000 đồng.
Bị cáo Trần Minh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.700.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đối với Hành vi đánh bạc ở huyện Chợ Mới của bị cáo Trần Minh T do không xác định được thời gian, địa điểm và những người chơi cụ thể nên chưa đủ căn cứ để yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Chợ Mới điều tra xác minh, xử lý Tuấn về hành vi đánh bạc là có căn cứ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần Minh T (Tuấn Hùng) phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng điểm c, đ khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Trần Minh T (Tuấn Hùng) 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 01 năm 2021.
Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật dân sự 2015.
- Buộc bị cáo Trần Minh T (Tuấn Hùng) có trách nhiệm trả lại cho anh Phạm Tuấn K số tiền 54.000.000 đồng (năm mươi bốn triệu đồng).
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
- Buộc bị cáo Trần Minh T (Tuấn Hùng) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.700.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND tỉnh An Giang; - Sở Tư pháp An Giang; - VKSND huyện Thoại Sơn; - Cơ quan điều tra CA huyện Thoaị Sơn; - Cơ quan THA hình sự huyện Thoại Sơn; - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn; - Bị cáo, bị hại (để thi hành); - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Triều |