vanban.org

Bản án 12/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 25/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn G phạm tội: “Hủy hoại tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn G 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phạm Văn G cho Ủy ban nhân dân thị trấn T P, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn G phạm tội Hủy hoại tài sản Đ178 - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn G phạm tội: “Hủy hoại tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 12/2022/HS-ST
Ngày: 25 - 01 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Gia và ông Lê Đình Khôi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Văn Năng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 152/2021/TLST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 09/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2022, đối với bị cáo:

Phạm Văn G, sinh năm 1989, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Khu X, thị trấn T P, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H, sinh năm 1967 và bà Hoàng Thị Ngọc T, sinh năm 1970; vợ: Nguyễn Thị Hoàng O, sinh năm 1994; có 01 con, sinh năm 2009; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo tại ngoại (có mặt).

- Bị hại: Bà Mai Thị Kim N, sinh năm 1983, nơi cư trú: Khu Y, thị trấn T P, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt nhưng có đề đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng:

+ Anh Nguyễn Công C, sinh năm 1996, nơi cư trú: Ấp Y, xã T C, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

+ Anh Bùi Minh H, sinh năm 1988, nơi cư trú: Khu Z, thị trấn T P, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

+ Anh Trần Tấn T, sinh năm 1996, nơi cư trú: Khu K, thị trấn T P, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

+ Anh Ngô Hoàng P, sinh năm 2001, nơi cư trú: Khu K, thị trấn T P, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

+ Anh Nguyễn Thanh V, sinh năm 1991, nơi cư trú: Ấp F, xã P T, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do Phạm Văn G và Ngô Hoàng P (là nhân viên của quán Karaoke M V) có xảy ra mâu thuẫn. Khoảng 18 giờ ngày 02/11/2020, sau khi uống rượu, G cầm 02 con dao tự chế dài khoảng 80 cm để đi tìm P. Sau đó, G gặp Nguyễn Văn N và một số đối tượng khác thì G nói về việc mâu thuẫn giữa G và P và nhờ nhóm Nam chở đi tìm P. Thấy G say, Nam can ngăn nhưng không được nên Nam giật một con dao trên tay của G, rồi cả nhóm đi trên hai xe mô tô cùng đi gặp P. Cả nhóm đến quán Karaoke M V do chị Mai Thị Kim N làm chủ, thuộc Ấp 1, xã Trà Cổ, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai nơi P đang làm việc để nói chuyện. Khi đến quán, thấy chị N, P, Ngô Công C, Bùi Minh H và một số nhân viên khác của quán đang ngồi nói chuyện tại bàn ghế đá và trên bàn đá chị N để một điện thoại điện thoại Iphone X và một chiếc bánh kém. G xuống xe chạy vào trước cầm dao chém vào sọt rác nhưng không trúng và bị rớt dao; G nhặt dao tiếp tục và chém 02 nhát xuống bàn đá, một nhát trúng vào điện thoại Iphone X của chị N gây hư hỏng và một nhát trúng vào bánh kem. Sau đó, G cầm dao lên chém một nhát trúng vào lưng C và dùng dao kề vào cổ H nhưng được can ngăn. Sau đó, G và nhóm đi về.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 56/KL.HĐĐGTS ngày 09/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Phú kết luận: 01 (một) điện thoại Iphone X 64Gb, màu đen bị đập phá hư hỏng hoàn toàn, trị giá tài sản là 9.200.000đ (Chín triệu hai trăm nghìn đồng).

Cáo trạng số: 110/CT-VKSTP-ĐN ngày 31/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, truy tố bị cáo Phạm Văn G về tội: “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Trên cơ sở phân tích dấu hiệu phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

Về tội danh: Bị cáo Phạm Văn G phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Về mức hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Phạm Văn G từ 10 (mười) tháng từ đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) con dao tự chế dài khoảng 80 cm, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra thông báo truy tìm khi nào tìm thấy sẽ xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong nên bị cáo không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Nội dung lời khai của những người tham gia tố tụng trong hồ sơ vụ án:

- Lời khai của bị cáo Phạm Văn G trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận nội dung của Bản cáo trạng là đúng sự thật; bị cáo không có ý kiến tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Lời khai của bị hại: Hành vi của bị cáo hủy hoại tài sản của bị hại đúng như Kết luận điều tra và Cáo trạng đã mô tả. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại thỏa đáng nên không yêu cầu bồi thường gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Cáo trạng số 110/CT-VKSTP-ĐN của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú được ban hành ngày 31/8/2021 nhưng đến ngày 17/12/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú mới chuyển hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân huyện Tân Phú là vi phạm thời hạn quy định tại Điều 244 của bộ luật Tố tụng hình sự.

Về sự vắng mặt của bị hại và người làm chứng nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại và người làm chứng.

. Về trách nhiệm hình sự:

. Xét về hành vi phạm tội:

Bị cáo Phạm Văn G thừa nhận: Khoảng 18 giờ, ngày 02/11/2020, tại quán Karaoke M V thuộc Ấp Y, xã T C, huyện Tân Phú, Phạm Văn G dùng một con dao tự chế dài khoảng 80 cm, chém làm hư hỏng hoàn toàn 01 (một) điện thoại Iphone X 64BG màu đen, trị giá 9.200.000đ (Chín triệu hai trăm nghìn đồng) của chị Mai Thị Kim N.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi do bị cáo thực hiện có đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản”. Tội danh mà Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó không chỉ trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa P. Do đó phải xử lý bị cáo theo pháp luật hình sự là cần thiết nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Cần tuyên mức án tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục, răn đe bị cáo trở thành công dân tốt có ích và đảm bảo công tác phòng ngừa tội phạm tại địa P.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ nội dung đánh giá nêu trên, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ, nhằm nâng cao tính giáo dục pháp luật và thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước.

Tòa án mở phiên tòa xét xử công khai vụ án nhằm xử lý hành vi phạm tội của bị cáo và tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của công dân, góp phần phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong xã hội.

. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) con dao tự chế dài khoảng 80cm chưa tìm thấy. Khi nào tìm thấy sẽ xử lý sau.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không xem xét.

. Về các vấn đề khác: Đối với hành vi của bị cáo dùng dao chém vào lưng bên trái của anh Ngô Công C chỉ bị thương tích nhẹ, anh C từ chối giám định và làm đơn bại nãi không yêu cầu xử lý đối với hành vi của bị cáo. Vì vậy, Trưởng công an huyện Tân Phú ra Quyết định xử phạt hành chính số 116/QĐ-XPHC ngày 01/7/2020 xử phạt bị cáo số 2.500.000 đồng, về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác;

Đối với đối tượng Nguyễn Văn N và các đối tượng khác cùng đi với bị cáo đến quán Karaoke nhưng không có bàn bạc với bị cáo nhằm mục đích hủy hoại tài sản của chị N nên không xử lý.

. Về án phí : Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ

thẩm là 200.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

. Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội và hình phạt của bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015; Nghị quyết số 02/2018/NQ -HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn G phạm tội: “Hủy hoại tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn G 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Văn G cho Ủy ban nhân dân thị trấn T P, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa P trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 292; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày niêm yết Bản án theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ