vanban.org

Bản án 12/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai Tuyên án 18/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ly Seo A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Ly Seo A 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 25/5/2022. Về án phí: Bị cáo Ly Seo A phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BAHS XX đối với bị cáo Ly Seo A phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ly Seo A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

__________________________________
Bản án số: 12/2022/HS-ST
Ngày 18 - 8 - 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thanh

Bà Trần Thị Xuân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Tráng Seo Sử - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Ly Seo A, sinh ngày 10/4/1968 tại huyện B, tỉnh Lào Cai;

Nơi cư trú: Thôn D, xã L, huyện B, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ly Seo H, sinh năm 1943 (đa chết) và bà Vàng Thị X,̃ sinh năm 1954 (đa chết); vợ Hảng Thị C, năm sinh 1967 (đã chết) và 02 con,̃

con lớn năm sinh 1992, con nhỏ năm sinh 2003; hiện đang chung sống như vợ chồng với Sùng Thị C, sinh năm 1978; Tiền án: Có 02 tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 06/2015/HSST ngày 22/9/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Tại bản án hình sự sơ thẩm số 10/2020/HSST ngày 23/7/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa chấp hành khoản tiền bồi thường; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/12/1990 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 27/11/1993 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 02/8/1997 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xử phạt 5 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, Ngày 28/3/2005 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, tính đến ngày phạm tội bị cáo đã được xóa án tích; năm 2004 bị UBND xã lầu Thí Ngài, huyê ̣n Bắc Hà xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản; năm 2002, năm 2006, năm 2009, năm 2013 bị UBND tỉnh Lào Cai ra quyết đi ̣nh đưa vào cơ sở giáo dục về hành vi Trộm cắp tài sản. Bị bắt tạm giữ ngày 25/5/2022, ngày bị bắt tạm giam: 03/6/2022, ngày được cho tại ngoại: Không; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai - Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Liệu Thị Nga, Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai - Có mặt.

- Bị hại:

+ Anh Sùng Seo V, năm sinh 1982

+ Chị Vàng Thị M, năm sinh 1985

Cùng nơi cư trú: Thôn D, xã L, huyện B, tỉnh Lào Cai.

Người đại diện theo ủy quyền của chị M: Anh Sùng Seo V, năm sinh 1982 (văn bản ủy quyền ngày 25/5/2022)

Nơi cư trú: Thôn D, xã L, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.

- Người có quyền lợi liên quan:

+ Bà Giàng Thị Đ, năm sinh 1958

Nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.

+ Anh Lồ Seo T, năm sinh 1995

Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Giàng Seo C, năm sinh 1997

Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 05 giờ ngày 24 tháng 5 năm 2022, Ly Seo A sinh năm 1968, trú tại thôn D, xã L, huyện B, tỉnh Lào Cai sang nhà Lồ Seo T sinh năm 1995, trú tại thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai rủ T xuống thị trấn B ăn sáng. T đồng ý rồi lấy xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave S màu vàng đen, biển kiểm soát 24U1- 008.31 mà trước đó T mượn của anh Giàng Seo C, năm sinh 1997 ở cùng thôn, T chở A xuống thị trấn B. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì về, khi đi đến địa phận thôn L, xã L, huyện B, A nhìn thấy 05 con ngan của gia đình anh Sùng Seo V sinh năm 1992 ở cùng thôn với A đang thả tại rãnh thoát nước gần đường đi nên A bảo T dừng xe lại bắt trộm ngan để bán lấy tiền tiêu xài. T đồng ý dừng lại, A bắt được 03 con ngan, T bắt được 02 con ngan rồi cả hai lên xe mô tô, T điều khiển trở A cùng số ngan trộm được xuống thị trấn B bán cho bà Giàng Thị Đ sinh năm 1958, trú tại tổ dân phố N, thị trấn B được 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). T nhận tiền rồi chia nhau mỗi người 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 09/KL ngày 26/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện B, xác định: 05 (năm) con ngan có trọng lượng 8,2kg. Tổng giá trị xác định là 902.000 đồng (Chín trăm linh hai nghìn đồng).

Đối với Lồ Seo T đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cùng Ly Seo A. Quá trình điều tra xác định T chưa có tiền án, tiền sự về hành vi xâm phạm sở hữu, giá trị tài sản chiếm đoạt là 902.000 đồng (Chín trăm linh hai nghìn đồng) không đủ yếu tố để khởi tố T về tội “Trộm cắp tài sản”, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Hà đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Lồ Seo T.

Tại bản Cáo trạng số 09/CT-VKS-BH ngày 11/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên tòa hôm nay:

+ Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà đã truy tố.

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà bổ sung Quyết đi ̣nh truy tố áp du ̣ng điểm h khoản 1 Điều 52 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự, các nội dung khác vẫn

̀ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Ly Seo A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tuyên phạt bị cáo Ly Seo A từ 07 đến 09 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: Không đề cập giải quyết.

Về dân sự: Không đề cập giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo qui định.

+ Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh truy tố, các tình tiết tăng nă ̣ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án 06 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+ Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tội danh và hình phạt: Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo là người đạt độ tuổi và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản, bị cáo đã rủ Lồ Seo T lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Giá trị tài sản chiếm đoạt của bị hại là 902.000 đồng (Chín trăm linh hai nghìn đồng) đồng; tuy giá tri ̣ tài sản mà bi ̣ cáo chiếm đoa ̣t dướ i 2.000.000 đồng, nhưng do bi ̣ cáo A đa bị kết án về tô ̣̃

i “Trô ̣m cắp tài sản”, chưa được xóa án tich nên bị

́ cáo A phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình gây ra, bị cáo thực hiện tội phạm dưới hình thức lỗi cố ý.

Vì vậy, đã có đủ cơ sở khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng và dư luận xấu đến trật tự trị an tại địa phương và trong quần chúng nhân dân, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.

Về tinh tiết tăng nă ̣ng trá ch nhiê ̣m hinh sự : Bị cáo có 02 tiền án Tại bản

̀

̀

án hình sự sơ thẩm số 06/2015/HSST ngày 22/9/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Tại bản án hình sự sơ thẩm số 10/2020/HSST ngày 23/7/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa chấp hành khoản tiền bồi thường, chưa được xóa án tích và lần phạm tội này do cố ý, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về nhân thân: Năm 1990, năm 1993 đa bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà xét xử về tội Trộm̃ cắp tài sản, năm 1997, năm 2005 đa bị Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xẽ

́t xử về tô ̣i Trộm cắp tài sản ; năm 2004 bị UBND xã lầu Thí Ngài, huyê ̣n Bắ c Hà xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi Trộm cắp tài sản; nhiều năm bị UBND tỉnh Lào Cai ra Quyết đi ̣nh đưa vào cơ sở giáo dục về hành vi Trộm cắp tài sản.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình bị khởi tố điều tra và tại phiên tòa thấy rằng: Bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản bị cáo chiếm đoạt gây thiệt hại không lớn, đã thu hồi trả lại cho người bị hại. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, giảm cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng do bị cáo đã có 02 tiền án, chưa được xóa án tích; bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu nhiều lần bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản, nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, nên cần áp dụng một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định hình phạt bổ sung bằng tiền. Xét thấy, bị cáo không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Trách nhiệm dân sự:

- Bị hại: Anh Sùng Seo V và chị Vàng Thị M đã nhận la ̣i tài sản là 05 con ngan, nay anh V, chị M; không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Xét thấy, việc bị hại không yêu cầu Tòa án giải quyết về phần dân sự là hoàn toàn tự nguyện, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

- Người có quyền lợi liên quan: Bà Giàng Thị Đ là người đã mua 05 con ngan của bị cáo, nhưng bà Đ không biết đó là tài sản trộm cắp, bị cáo đã trả lại số tiền mua ngan cho bà Đ, nay bà Đ không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Xét thấy, việc người có quyền lợi liên quan không yêu cầu Tòa án giải quyết về phần dân sự là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Việc xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định và thu giữ gồm: 01 xe mô tô HONDA Wave S màu vàng đen, biển kiểm soát 24U1- 008.31 là của anh Giàng Seo C không liên quan đến vụ án, cơ quan điều tra đã trả lại cho anh C là đúng quy định, đến nay anh C không có ý kiến gì về tài sản đã nhận lại nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về các vấn đề khác: Đối với Lồ Seo T đã có hành vi trộm cắp tài sản cùng Ly Seo A; T chưa có tiền án, tiền sự về hành vi xâm phạm sở hữu, giá trị tài sản trô ̣m cắp không đủ yếu tố để khởi tố Tấn về tội “Trộm cắp tài sản”, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Hà đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Lồ Seo T là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trợ giúp viên Pháp lý, bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi liên quan, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp;

Đối với người bào chữa cho bị cáo A đề nghị xử phạt bị cáo mức án 06 tháng tù là nhẹ, nên không được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ly Seo A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Ly Seo A 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 25/5/2022.

3. Về án phí: Bị cáo Ly Seo A phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a, và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ