- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm H và ông Phạm N được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 12/2022/HNGĐ-ST Ngày: 28/6/2022 V/v “ Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ
TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thúy Phượng
- Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Nguyễn Thị Hiền
- Bà Siu H’Bing
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 28 tháng 6 năm 2022, Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng mở phiên Tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 40/2022/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2022/QĐST-HNGĐ giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Phạm H. Sinh năm 1980
Địa chỉ: Thôn L, xã R, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Có mặt tại phiên tòa.
* Bị đơn: Ông Phạm N. Sinh năm 1979
Địa chỉ: Thôn L, xã R, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa của nguyên đơn bà Phạm H trình bày thì:
Bà và ông Phạm N sau thời gian quen biết được khoảng năm tháng thì tự nguyện đi đến hôn nhân, ông bà có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã C, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn ông bà sinh sống tại đây được 12 năm. Đến năm 2010 thì đến sinh sống và lập nghiệp tại thôn Thôn L, xã R, huyện Đ cho đến nay.
Tuy nhiên, trong thời gian chung sống thì vợ chồng ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn và ngày càng trở nên nghiêm trọng đến mức không thể hòa giải được, nguyên nhân do ông N thường xuyên uống rượu, say sỉn đánh đập vợ con và còn có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác do đó ông bà không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa. Mặc dù, bà đã rất cố gắng nhưng không thể hàn gắn tình cảm được nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Phạm N.
Trong thời gian chung sống ông bà có với nhau 03 người con chung là cháu Phạm H, sinh ngày 30/8/2000, cháu Phạm T, sinh ngày 30/3/2004 và cháu Phạm Q sinh ngày 23/10/2018. Hiện nay hai cháu H và T đã đủ tuổi trưởng thành, cháu Q đang ở với mẹ tại xã R, huyện Đ, cháu phát triển tốt. Nếu ly hôn bà yêu cầu được nhận nuôi cháu Q và bà yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con với mức 2.000.000 đồng/tháng. Hiện nay, ông N đang làm nghề thợ xây, có thu nhập khá ổn định nên ông hoàn toàn có điều kiện để cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Ngoài ra, bà không yêu cầu hay trình bày gì thêm.
* Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành triệu tập ông Phạm N nhưng ông N không chấp hành, không đến làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án.
Vụ án đã được Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, bà H và ông N có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật, quá trình chung sống, hai bên có xảy ra mâu thuẫn, xét thấy tình cảm vợ chồng bà H và ông N không còn khả năng hàn gắn lại được, nên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho ly hôn. Về con chung, xét điều kiện nuôi dưỡng của bà H và bà H muốn nhận nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Phạm Q sinh ngày 23/10/2018 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, ông N phải cấp dưỡng nuôi con chung với mức 2.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét đến.
Về nợ chung: Không có.
Về án phí: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Sau khi nghiên cứu xem xét các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Phạm N vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Phạm H và ông Phạm N có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã C, huyện Y, tỉnh Ninh Bình vào ngày 12/10/1998. Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông N, hiện nay ông N, bà H đang sinh sống tại thôn L, xã R, huyện Đ. Do đó, căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử xác định đây là vụ kiện “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ.
[3] VÒ quan hÖ h«n nh©n: Bà Phạm H và ông Phạm N đã tự nguyện đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn nên xác định hôn nhân của bà H và ông N là hợp pháp. Tuy nhiên, quá trình chung sống bà Hvà ông N thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Nthường xuyên đánh đập bà H, không chăm lo cho cuộc sống gia đình, tình cảm vợ chồng rạn nứt đến mức không thể hàn gắn được nên bà H nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông N. Còn ông N không chấp hành quy định của pháp luật tố tụng dân sự khi giải quyết vụ án tại Tòa án. Theo xác minh tại địa phương thì giữa hai vợ chồng ông bà cũng phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng và có lần còn nhờ chính quyền địa phương can thiệp. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H là phù hợp.
[4] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy hiện nay hai con chung của ông N và bà H là cháu Phạm H, sinh ngày 30/8/2000, cháu Phạm T, sinh ngày 30/3/2004 đã trưởng thành, do đó Hội đồng xét xử không đề cập đến. Còn cháu Phạm Q sinh ngày 23/10/2018 đang ở cùng với mẹ, phát triển tốt, bà H muốn nhận nuôi cháu Q và để đảm bảo cháu được sinh hoạt và học tập ổn định, phát triển tốt nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H, giao cháu Phạm Q cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Đối với yêu cầu ông N phải cấp dưỡng nuôi con chung với mức 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi là phù hợp với mức chi phí bình quân để đáp ứng nhu cầu cần thiết cho cháu Q cũng như phù hợp với khả năng và thu nhập của ông N nên Hội đồng xét xử chấp nhận mức yêu cầu cấp dưỡng này của bà H.
[5] Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[6] Về nợ chung: Không có.
[7] Về án phí: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bà Phạm H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Buộc ông Phạm N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1, Điều 35; 39 và Điều 147, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84, 110, 116 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm H và ông Phạm N được ly hôn.
2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung là cháu Phạm Q sinh ngày 23/10/2018 cho bà Phạm H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi, ông Phạm N phải cấp dưỡng nuôi con với mức 2.000.000 (Hai triệu) đồng/tháng cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.
Quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi việc cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
3. Về án phí: Buộc nguyên đơn bà Phạm H phải nộp số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm của vụ án nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006156 ngày 06 tháng 4 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, bà H đã nộp đủ án phí. Buộc ông Phạm N phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo trình tự phúc thẩm. Đương sự vắng mặt thì thời hạn tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Đ; - CC THADS huyện Đ; - UBND xã C, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Thúy Phượng |