vanban.org

Bản án 12/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Đàm Văn C đối với chị Mai Thị H.

Cho anh Đàm Văn C được ly hôn chị Mai Thị H. Giao 02 con chung là Đàm Gia Huy, sinh ngày 23/10/2015 và Đàm Gia Hân, sinh ngày 22/9/2017 cho anh Đàm Văn C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao độn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "CHIẾN - HIÊN"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Đàm Văn C đối với chị Mai Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 08-9-2022
“V/v Ly hôn, tranh chấp
nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH G

- Thành phần Hô ̣i đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ pH toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thơ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Chín;

2. Ông Lê Văn Do.

- Thư ký pH toà: Ông Vũ Đức Quang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia pH tòa: Bà Lê Thị Thu Bình – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý dân sự số 67/2022/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 4 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn pH tòa số 12/2022/QĐST- HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Đàm Văn C, sinh năm 1993. Nơi ĐKHKTT: Thôn 01, xã Hải Yang, huyện Đ, G. Nơi ở hiện nay: Thôn 3, xã Hải Yang, huyện Đ, G. Có mặt.

- Bị đơn: Chị Mai Thị H, sinh năm 1996. Nơi ĐKHKTT: Thôn 01, xã Hải Yang, huyện Đ, G. Nơi ở hiện nay: Thôn 02, xã Hải Yang, huyện Đ, G. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 08 tháng 02 năm 2022, trong quá trình giải quyết vụ án và tại pH tòa nguyên đơn anh Đàm Văn C trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Mai Thị H tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hải Yang, huyện Đ, tỉnh G vào ngày 29/01/2015. Sau khi kết hôn, anh và chị Mai Thị H sống chung tại thôn 1 xã Hải Yang, huyện Đ, tỉnh G cho đến năm 2018 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vì anh và chị H không tin tưởng nhau, không có tiếng nói chung và thường xuyên xảy ra cãi vả, từ đó anh và chị H đã sống ly thân cho đến nay. Nay anh không còn tình cảm với chị H nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.

Về con chung: Anh và chị Mai Thị H có 02 con chung là Đàm Gia Huy, sinh ngày 23/10/2015 và Đàm Gia Hân, sinh ngày 22/9/2017. Từ khi ly thân vào năm 2018 đến nay, anh là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, ly hôn anh có nguyện vọng nuôi 02 con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục để triệu tập hợp lệ đối với bị đơn chị Mai Thị H. Tuy nH, chị Mai Thị H không đến Tòa án để cung cấp chứng cứ, tham gia pH họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Do vậy, chị Mai Thị H không có lời khai tại hồ sơ vụ án.

Tại pH tòa kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại pH tòa, những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Đối với bị đơn chị Mai Thị H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại pH toà nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt.

Về nội dung: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại pH toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại pH tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì anh Đàm Văn C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung với chị Mai Thị H. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng Dân sự thì tranh chấp này thuộc thẩm quyển của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn là chị Mai Thị H có nơi cư trú tại huyện Đ, tỉnh G. Do vậy, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G có thẩm quyền thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bị đơn chị Mai Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia tố tụng tại pH tòa nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan, nên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung: Anh Đàm Văn C và chị Mai Thị H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hải Yang, huyện Đ, tỉnh G vào ngày 29/01/2015 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp. Theo anh C trình bày thì trong thời gian anh và chị H chung sống đến năm 2018 xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn vì chị H không chăm lo cho cuộc sống gia đình, anh và chị H không tin tưởng nhau, không có tiếng nói chung và thường xuyên xảy ra cãi vả, do mâu thuẫn căng thẳng anh và chị H đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với chị Mai Thị H.

Xét nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn giữa anh Đàm Văn C và chị Mai Thị H là do hai vợ chồng không tin tưởng nhau, thường xuyên xảy ra bất đồng cãi vả. Hơn nữa, khi mâu thuẫn, bất đồng xảy ra anh C và chị H đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay thì không bên nào đưa ra được biện pháp để hàn gắn quan hệ vợ chồng, làm cơ sở cho việc đoàn tụ. Tòa án cũng đã triệu tập chị Mai Thị H để tiến hành hòa giải cho hai vợ chồng đoàn tụ với nhau và để giải quyết vụ án nhưng chị H không đến Tòa án để tham pH họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Như vậy, chị Mai Thị H đã không còn yêu thương đối với anh Đàm Văn C và không quan tâm đến tình cảm vợ chồng cũng như việc xây dựng, hàn gắn tổ ấm gia đình.

Tại biên bản xác minh ngày 22/6/2022 tại Ủy ban nhân dân xã Hải Yang, huyện Đ, tỉnh G thể hiện: Trong thời gian anh C và chị H chung sống với nhau tại địa phương xảy ra nhiều mâu thuẫn, hiện cả hai đã sống ly thân.

Từ nhận định trên thấy rằng mâu thuẫn giữa anh C và chị H đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của anh Đàm Văn C là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Anh Đàm Văn C và chị Mai Thị H có 02 con chung là Đàm Gia Huy, sinh ngày 23/10/2015 và Đàm Gia Hân, sinh ngày 22/9/2017. Ly hôn anh C yêu cầu giải quyết cho anh C được nuôi 02 con chung.

Xét, con chung Đàm Gia Huy và Đàm Gia Hân sống cùng với anh Đàm Văn C tại Thôn 3, xã Hải Yang, huyện Đ, tỉnh G ổn định từ năm 2018 cho đến nay. Chị Mai Thị H không đến Tòa án trình bày ý kiến đối với yêu cầu nuôi con chung đối với anh Đàm Văn C.

Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của anh Đàm Văn C phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp đến phát triển ổn định của 02 con chung, nên giao 02 con chung Đàm Gia Huy, sinh ngày 23/10/2015 và cháu Đàm Gia Hân, sinh ngày 22/9/2017 cho anh Đàm Văn C tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân mình.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Đàm Văn C không yêu cầu chị Mai Thị H cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh, vì anh đủ điều kiện kinh tế nuôi con. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Anh Đàm Văn C không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Đàm Văn C là nguyên đơn yêu cầu ly hôn nên phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 144, 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 5, khoản 6 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên Xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Đàm Văn C đối với chị Mai Thị H.

1. Cho anh Đàm Văn C được ly hôn chị Mai Thị H.

2. Giao 02 con chung là Đàm Gia Huy, sinh ngày 23/10/2015 và Đàm Gia Hân, sinh ngày 22/9/2017 cho anh Đàm Văn C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân mình.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Chị Mai Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Đàm Văn C.

4. Án phí: Anh Đàm Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0009526 ngày 31 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh G.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn anh Đàm Văn C có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh G xét xử phúc thẩm. Bị đơn chị Mai Thị H vắng mặt tại pH toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.

Cỡ chữ