vanban.org

Bản án 12/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho bà Trần Thị Ngọc Q được ly hôn với ông Phạm Minh H.

Về nuôi con chung: Khi ly hôn, bà Trần Thị Ngọc Q được tiếp tục giữ nuôi 02 người con chung tên Phạm Trần Ngọc G, sinh ngày 11/02/2009 và Phạm Trần Mộng T, sinh ngày 26/5/2016, đến tuổi trưởng thành. Ông Phạm Minh H không phải cấp dưỡng nuôi con, được quyền đến thăm nom chăm sóc con chung không ai đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Ngọc Q-Phạm Minh H "LY HON""
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho bà Trần Thị Ngọc Q được ly hôn với ông Phạm Minh H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 09-02-2022.
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Thái.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Văn Bé.

Ông Đinh Ngọc Dình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

Ngày 09 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 173/2021/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2021, về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2021, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ngọc Q, sinh năm: 1990.

Địa chỉ: Số nhà 215/4, ấp 4, xã H, huyện C, tỉnh Long An.

Chỗ ở hiện nay: Số nhà 224/3, ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Ông Phạm Minh H, sinh năm: 1989.

Địa chỉ: Số nhà 215/4, ấp 4, xã H, huyện C, tỉnh Long An.

(Bà Q có mặt, ông H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 10 năm 2021 và trong quá trình xét xử, bà Trần Thị Ngọc Q là nguyên đơn trình bày: Bà và ông Phạm Minh H được tổ chức lễ cưới năm 2007 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Long An vào ngày 03/02/2009.

Sau ngày cưới vợ chồng sống hạnh phúc được 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do cuộc sống gia đình khó khăn và vợ chồng không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên hai người không còn chung sống với nhau từ cuối năm 2019 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà xin được ly hôn với ông Phạm Minh H.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên là Phạm Trần Ngọc G, sinh ngày 11/02/2009 và Phạm Trần Mộng T, sinh ngày 26/5/2016, hiện 02 con chung đang sống với bà, khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục giữ nuôi 02 người con chung, bà không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà cam kết vợ chồng không có nợ chung.

Ông Phạm Minh H là bị đơn đã được triệp tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Bà Trần Thị Ngọc Q xin ly hôn với ông Phạm Minh H, việc tranh chấp được quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thụ lý, giải quyết. Ông Phạm Minh H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do nên cần áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt đối với ông Phạm Minh H.

Bà Trần Thị Ngọc Q và ông Phạm Minh H được tổ chức lễ cưới năm 2007 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Long An vào ngày 03/02/2009, nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Qua lời khai trình của bà Trần Thị Ngọc Q và các chứng cứ nguyên đơn xuất trình, Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà Q, ông H đã phát sinh mâu thuẫn, hai người không còn chung sống với nhau từ cuối năm 2019 cho đến nay, nhưng không hàn gắn đoàn tụ lại được. Bà Q xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn với ông H. Ông H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không hợp tác giải quyết việc hôn nhân của các đương sự. Xét thấy giữa hai đương sự đã phát sinh mâu thuẫn, nhưng cả hai không có thiện chí hàn gắn lại, đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần cho bà Trần Thị Ngọc Q được ly hôn với ông Phạm Minh H, theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về nuôi con chung: Hai đương sự có với nhau 02 người con chung tên Phạm Trần Ngọc G, sinh ngày 11/02/2009 và Phạm Trần Mộng T, sinh ngày 26/5/2016, hiện nay 02 con chung do bà Q đang trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà Q yêu cầu được tiếp tục giữ nuôi 02 con chung, bà không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy yêu cầu của bà Q phù hợp với nguyện vọng của con chung nên chấp nhận. Ông H vắng mặt nên không có ý kiến về nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con. Ông H có quyền đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung các đương sự được quyền xin thay đổi tình trạng nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con, theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung: Bà Q khai trình không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

Về nợ chung: Bà Q cam kết không có nợ chung, nên không xem xét.

Về án phí: Bà Trần Thị Ngọc Q phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Ông Phạm Minh H không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho bà Trần Thị Ngọc Q được ly hôn với ông Phạm Minh H.

2. Về nuôi con chung: Khi ly hôn, bà Trần Thị Ngọc Q được tiếp tục giữ nuôi 02 người con chung tên Phạm Trần Ngọc G, sinh ngày 11/02/2009 và Phạm Trần Mộng T, sinh ngày 26/5/2016, đến tuổi trưởng thành. Ông Phạm Minh H không phải cấp dưỡng nuôi con, được quyền đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung các đương sự được quyền xin thay đổi tình trạng nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Bà Trần Thị Ngọc Q phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Cho chuyển số tiền tạm ứng án phí bà Q đã nộp là 300.000 đồng sang tiền án phí phải thi hành, theo biên lai thu số 0007573 ngày 03 tháng 11 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. *Nơi nhận:

Cỡ chữ