vanban.org

Bản án 12/2022/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đình H1 về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Về án phí: Anh Nguyễn Đình H1 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số CC/2021/0000123 ngày 11/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa, anh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp về nuôi con sau khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đình H1 về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƢỚNG HÓA
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2022/HNGĐ-ST
Ngày 23/8/2022
V/v “Tranh chấp về thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Thanh Trung

2. Bà Hoàng Thị Lan

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Đức Thiện – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Hoài Minh – Kiểm sát viên.

Ngày 23tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2022/TLST - HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2022 và Quyết đinh hoãn phiên tòa số13/2022/QĐST-HNGĐ ngày 17/8/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đình H1; sinh năm 1989; Địa chỉ: thôn C, xã H, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; có mặt

- Bị đơn: Chị Đào Thị Hồng T1; sinh năm 1992; Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn trình bày:

Anh Nguyễn Đình H1 và chị Đào Thị Hồng T1 có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Bảo T2, sinh ngày 14/3/2015. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 12/2017/QĐST-HNGĐ ngày 22/2/2017 của Tòa án huyện Hướng Hóa, anh H1 và chị T1 thỏa thuận, chị T1 trực tiếp nuôi con chung và anh H1 không cấp dưỡng nuôi con. Tại Quyết định Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 29/2020/QĐST-HNGĐ ngày 27/4/2020 của Tòa án huyện Hướng Hóa, anh H1 và chị T1 thỏa thuận anh H1 cấp dưỡng nuôi con số tiền 1.000.000 đồng/tháng từ tháng 04/2020 cho đến khi con tH1 niên; Nhưng hiện nay, chị T1 đã kết hôn có chồng mới nên việc chăm sóc con không đảm bảo, không thuận tiện để nuôi dưỡng chăm sóc cho con được đầy đủ và hoàn thiện; bản thân anh hiện nay chưa lập gia đình và là công chức nhà nước, có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế ổn định. Ngoài ra, việc anh H1 đưa đón con chung vào nhà anh chơi thì chị T1 luôn ngăn cản, không cho anh thăm nom, chăm sóc cháu, anh H1 gọi điện yêu cầu chị T1 để anh đón cháu vào nhà thì chị T1 không nghe máy. Vì vậy, anh H1 làm đơn khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết thay đổi quyền được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Bảo T2, sinh ngày 14/3/2015 và không yêu cầu chị T1 cấp dưỡng nuôi con.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn trình bày ý kiến:

Vào ngày 22/2/2017 chị T1 và anh H1 ly hôn đã thỏa thuận giao cháu T2 cho chị T1 là người trực tiếp nuôi con; Sau một thời gian ly hôn thì anh H1 đã kết hôn lập gia đình và có con chung với vợ thứ 2. Nhưng từ khi ly hôn và lập gia đình mới anh H1 không quan tâm thăm nom, chăm sóc cháu T2, không trợ cấp cho cháu thứ gì, ngay cả khi cháu đau nằm viện anh H1 củng không phụ giúp viện phí hay quan tâm gì; Ngày 09/12/2019 chị T1 đã làm đơn gửi Tòa án yêu cầu anh H1 thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con với số tiền 1.000.000 đồng/tháng, anh H1 đã đồng ý thỏa thuận nhưng sau khi có quyết định của Tòa án thì anh H1 luôn gây khó khăn trong việc cấp dưỡng nuôi cháu, buộc chị T1 phải viết đơn gửi Chi cục thi H1 án thu hộ tiền cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay, mặc dù chị đã kết hôn nhưng chồng mới của chị luôn thương yêu và xem cháu T2 như con ruột của mình; chị T1 có công việc , thu nhập và chổ ở ổn định, cháu T2 được chị T1 chăm sóc tốt thể hiện tH1 tích học tập và sức khỏe của cháu luôn đảm bảo; bản thân chị T1 luôn tạo điều kiện để anh H1 thực hiện quyền và nghĩa vụ thăm nom theo quy định của pháp luật nên chị T1 không đồng ý với yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của anh H1.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Thư ký được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã được thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn và việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử tại phiên tòa được tiến hành công khai, công bằng. Bảo đảm sự vô tư, khách quan trong tố tụng dân sự. Đã thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 48, 51, 203 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về ý kiến giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 28 ,35, 228 BLTTDS 2015 và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với cháu Nguyễn Ngọc Bảo T2, sinh ngày 14/3/2015.

Về án phí DSST: Buộc anh Nguyễn Đình H1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Nguyên đơn đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ gồm: Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự (Bản phô tô chứng thực); 01 Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (Bản phô tô); 01 Giấy CMND Nguyễn Đình H1 (Bản phô tô chứng thực); 01 Sổ hộ khẩu (Bản phô tô chứng thực); 01 Danh sách tiền lương cán bộ công chức cấp xã (Bản sao);

Bị đơn đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ gồm: 01 Bản tự khai; 01 Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; 01 Thông báo kết quả học tập cháu Nguyễn Ngọc Bảo T2, 01 Giấy xác nhận lương; 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tòa án tiến hành xác minh về điều kiện người trực tiếp nuôi con và việc thăm nuôi con chung ngày 26/7/2022.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền:

Anh Nguyễn Đình H1 có đơn khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con đối với chị Đào Thị Hồng T1, trú tại: thôn Tân Hào, xã Tân Liên, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án huyện Hướng Hóa theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vụ án được Tòa án tiến H1 thu thập chứng cứ nên đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm là phù hợp với quy định tại Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về nôi dung:

Anh Nguyễn Đình H1 khởi kiện yêu cầu được thay đổi người trực tiếp nuôi con là cháu Nguyễn Ngọc Bảo T2 với lý do: chị Đào Thị Hồng T1 đã lập gia đình mới, điều kiện không đảm bảo, không thuận tiện để nuôi dưỡng chăm sóc cho con được đầy đủ và hoàn thiện; Ngoài ra, việc anh H1 đưa đón con chung vào nhà anh thì chị T1 luôn ngăn cản, không cho anh thăm nom, chăm sóc cháu. HĐXX thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh H1 và chị T1 không có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con; anh H1 cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh chị T1 không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và các tài liệu, chứng cứ chứng minh việc chị T1 ngăn cản quyền thăm nom con của anh H1; Việc anh H1 cho rằng sau khi ly hôn với anh thì chị T1 đã kết hôn và đưa con chung của anh và chị về sống chung với người chồng sau không phải là căn cứ để xem xét, giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con; Mặt khác, tại bản lấy ý kiến cháu T2 ngày 21/4/2022 con chung của anh H1 và chị T1 thì cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống với chị T1.

Đối với bị đơn chị Đào Thị Hồng T1 đã cung cấp cho Tòa án những tài liệu, chứng cứ như kết quả học tập của cháu T2, Công việc và thu nhập của chị, cũng như chổ ở ổn định để chứng minh cho việc chị đủ điều kiện chăm sóc tốt cho cháu T2; Ngoài ra, việc thăm nom cháu T2 của anh H1 chị chưa bao giờ ngăn cản.

Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương nơi chị T1 cư trú thì việc chăm sóc cháu T2 của chị T1 luôn đảm bảo, không ai ngăn cản việc thăm nom cháu T2 của anh Hành.

Từ những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và từ những phân tích trên; HĐXX thấy: Chị Đào Thị Hồng T1 đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T2 và xuất phát từ quyền lợi về mọi mặt của cháu Nguyễn Ngọc Bảo T2, để đảm bảo điều kiện phát triển bình thường, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, không làm xáo trộn cuộc sống, sinh hoạt ổn định hiện tại của cháu nên căn cứ quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình không chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của anh H1.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc anh Nguyễn Đình H1 phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 21; Khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 93, Điều 147, Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đình H1 về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Đình H1 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số CC/2021/0000123 ngày 11/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa, anh H1 đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ